Tốc độ tăng trưởng xuất khẩu hàng điện tử của Việt Nam bình quân trên 50% trong giai đoạn 2010 - 2019, tuy nhiên xuất khẩu hàng điện tử vẫn thuộc về khu vực có vốn đầu tư nước ngoài.
95% giá trị xuất khẩu hàng điện tử nằm trong tay doanh nghiệp nước ngoài

95% giá trị xuất khẩu hàng điện tử nằm trong tay doanh nghiệp nước ngoài

Báo cáo của Cục Công nghiệp (Bộ Công Thương) cho thấy, giai đoạn 2010-2019, tốc độ tăng trưởng xuất khẩu hàng điện tử của Việt Nam bình quân trên 50%. Năm 2019, ngành điện tử xuất khẩu trên 87 tỷ USD.

Theo số liệu cập nhật đến hết quý I năm nay, xuất khẩu các mặt hàng nhóm ngành điện tử có kim ngạch trên 5 tỷ USD. Đáng kể nhất, xuất khẩu điện thoại và linh kiện đạt 14,1 tỷ USD, tăng hơn 9% so với cùng kỳ 2020 và chiếm trên 18% tổng kim ngạch xuất khẩu. Mặt hàng điện tử, máy tính và linh kiện đạt 12 tỷ USD, tăng trên 31%.

Giá trị xuất khẩu cao, góp tỷ trọng đáng kể trong tổng kim ngạch xuất khẩu chung, nhưng đánh giá của Bộ Công Thương, xuất khẩu hàng điện tử vẫn thuộc về khu vực có vốn đầu tư nước ngoài. "Tới 95% giá trị xuất khẩu hàng điện tử nằm trong tay doanh nghiệp vốn ngoại", Cục Công nghiệp nhận xét.

Riêng 3 tháng đầu năm nay, ở một số mặt hàng như điện thoại và linh kiện, giá trị xuất khẩu của khối ngoại chiếm trên 99%; điện tử, máy tính và linh kiện là 98%...

Nguyên nhân của bất cập này, theo cơ quan quản lý, do tỷ lệ nội địa hóa ngành điện tử hiện nay rất thấp, chỉ 5-10%. Các sản phẩm điện tử trên thị trường Việt Nam đa số là hàng nhập khẩu nguyên chiếc hoặc lắp ráp trong nước bằng phần lớn các linh kiện nhập khẩu. Doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ ngành điện tử trong nước đã tham gia vào chuỗi giá trị của ngành, nhưng phần lớn cung cấp các sản phẩm hàm lượng công nghệ, giá trị thấp.

Trong khi đó, các doanh nghiệp điện tử nội địa có tiếng trước đây đang phát triển chậm lại hoặc mất dần thương hiệu và chiếm thị phần nhỏ. Một số nhãn hiệu điện tử trong nước mới nổi như điện thoại BPhone, Vsmart, Vietel... song thị trường điện - điện tử dân dụng chủ yếu do các thương hiệu nước ngoài chiếm lĩnh.

Qua một số chương trình, dự án hợp tác với các doanh nghiệp FDI, các doanh nghiệp trong nước cho thấy rất nỗ lực nâng cao chất lượng sản phẩm, khả năng cạnh tranh để gia nhập vào chuỗi cung ứng của các FDI. Chẳng hạn, số nhà cung ứng cấp 1 thuần Việt cho Samsung Việt Nam tăng từ 4 lên 35 nhà cung cấp trong 4 năm.

Trong chuỗi cung ứng của Panasonic Việt Nam hiện có 4 doanh nghiệp Việt, nhưng giá trị cung ứng mới chiếm khoảng 10% giá trị linh kiện đầu vào sản xuất của tập đoàn này. Còn Canon Việt Nam vẫn liên tục tìm nhà cung cấp Việt Nam để tăng tỷ lệ nội địa hoá.