APEC là gì và APEC tác động đến Việt Nam thế nào. Hiện nay, APEC có 21 thành viên và đóng góp khoàng 57% GDP toàn cầu và hơn 50% thương mại thế giới. Việt Nam chính thức gia nhập APEC năm 1998 đã giúp nâng cao vị thế quốc tế và tạo điều kiện để phát triển đất nước.

APEC là gì và APEC tác động Việt Nam thế nào

APEC là tên viết tắt của Asia - Pacific Economic Cooperation. Diễn đàn Hợp tác Kinh tế Châu Á - Thái Bình Dương (APEC) là tổ chức quốc tế của các quốc gia nằm trong khu vực Châu Á - Thái Bình Dương với mục tiêu tăng cường mối quan hệ về kinh tế và chính trị.

Diễn đàn Hợp tác Kinh tế Châu Á - Thái Bình Dương được thành lập tháng 11/1989 là một diễn đàn kinh tế mở nhằm xúc tiến các biện pháp kinh tế, thúc đẩy thương mại và đầu tư giữa các nền kinh tế thành viên trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện trong khi thực sự mở cửa đối với tất cả các nước và khu vực khác.

APEC la gi va APEC tac dong den Viet Nam the nao

APEC là Diễn đàn Hợp tác Kinh tế Châu Á - Thái Bình Dương

Bối cảnh ra đời của APEC

Việc thành lập APEC từ sáng kiến của Ô-xtrây-lia

Vào những năm 1960, ý tưởng về việc liên kết kinh tế khu vực đã được một số học giả người Nhật Bản đưa ra. Năm 1965, Kojima và Kurimoto là hai học giả người Nhật đã đề nghị thành lập một "Khu vực mậu dịch tự do Thái Bình Dương". Thành viên của khu vực này bao gồm năm nước công nghiệp phát triển và mở cửa cho một số thành viên liên kết là các nước đang phát triển ở khu vực lòng chảo Thái Bình Dương tham gia. Nhận thức được sự cần thiết phải xây dựng sự hợp tác có hiệu quả về kinh tế trong khu vực từ các học giả khác như Tiến sĩ Saburo Okita (Cựu Ngoại trưởng Nhật Bản) và Tiến sĩ John Crawford (Đại học Tổng hợp Quốc gia Ô-xtrây-lia). Đến năm 1980, Hội đồng Hợp tác Kinh tế Thái Bình Dương (PECC) được hình thành từ tư tưởng đó. Việc PECC được hình thành đã mở ra trang mới cùng với ASEAN hình thành chế độ tư vấn kinh tế rộng rãi giữa các nền kinh tế trong khu vực và là bước đẩy cho ý tưởng thành lập APEC.

Cuối những năm 1980, một số quan chức Chính phủ Nhật Bản, nhất là Bộ trưởng Thương mại và Công nghiệp ( MITI) lúc đó là Hajime Tamura đã gợi ý về việc thành lập một diễn đàn hợp tác có tính chất kỹ thuật về các vấn đề kinh tế khu vực. Đang tập trung thúc đẩy tiến triển của vòng đàm phán U-ru-guay của GAT và hình thành Khu vực Mậu dịch Tự do Bắc Mỹ (NAFTA) nên Mỹ ít quan tâm đến những gợi ý đó. Trong lúc đó thì Chính phủ Công Đảng của Thủ tướng Bob Hawke ở Ô- xtrây-lia đã nhận thức được tầm quan trọng thiết yếu của mối quan hệ kinh tế, thương mại với Châu Á đối với Ô-xtrây-lia nên đã kịp thời nắm bắt và thúc đẩy ý tưởng về một diễn đàn hợp tác kinh tế.

Tháng 1 năm 1989, tại Seoul, Hàn Quốc, Thủ tướng Bob Hawke đã nêu ý tưởng về việc thành lập một Diễn đàn tư vấn kinh tế cấp Bộ trưởng ở Châu Á - Thái Bình Dương với mục đích phối hợp hoạt động của các Chính phủ nhằm đẩy mạnh phát triển kinh tế ở khu vực, đồng thời hỗ trợ hệ thống thương mại đa phương. Ý tưởng này đã được nhiều nước ủng hộ như Nhật Bản, Ma-lai-xia, Hàn Quốc, Thái Lan, Phi-lip-pin, Singapore, Canada, Niu Di-lân, Bru-nây, In-đô-nê-xia và Mỹ.

Tháng 11 năm 1989, APEC chính thức được thành lập tại Can-bê-ra của Ô-xtrây-lia có sự tham gia của các Bộ trưởng Ngoại giao và Kinh tế từ các nước ủng hộ trên.

Tháng 11 năm 1991, APEC tiếp tục kết nạp thêm Trung Quốc, Hồng Kong và Đài Loan.

Tháng 11 năm 1993, APEC có thêm Mê-hi-cô, Papua Tân Guinea tham gia.

Tháng 11 năm 1994, có thêm thành viên Chi-lê và tạm ngừng thời hạn xét kết nạp thành viên trong 3 năm.

Đến tháng 11 năm 1998, APEC kết nạp thêm ba thành viên mới là Pê-ru, Liên Bang Nga và Việt Nam, tiếp tục ra quyết định tạm ngừng thời hạn xem xét kết nạp thành viên mới trong mười năm để củng cố tổ chức.

Đến nay, APEC đã có 21 nền kinh tế thành viên với khoảng 2,5 tỷ dân; 19.000 tỷ đô la Mỹ GDP mỗi năm và chiếm 47% thương mại thế giới (xem bảng 1). APEC bao gồm cả hai khu vực kinh tế mạnh và năng động nhất thế giới: khu vực Đông Á và khu vực Bắc Mỹ (gồm Mỹ, Ca-na-đa và Mê-hi-cô) với những nét đặc thù và vô cùng đa dạng về chính trị, xã hội, kinh tế và văn hóa.

Nội dung hoạt động của APEC xoay quanh tự do hoá thương mại và đầu tư, tạo thuận lợi cho thương mại và đầu tư, hợp tác kinh tế kỹ thuật với các chương trình hành động tập thể (CAP) và chương trình hành động Quốc gia (IAP) của từng thành viên.

Mục tiêu APEC là hướng đến một diễn đàn kinh tế mở, xúc tiến các biện pháp kinh tế, thúc đẩy thương mại và đầu tư giữa các nền kinh tế thành viên trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện và thực sự mở cửa đối với tất cả các nước và khu vực khác. APEC có mục tiêu rõ ràng hoàn toàn không có ý tưởng về việc xây dựng một liên minh quan thuế hay mậu dịch tự do như kiểu EU, NAFTA hay AFTA.

Vì sao có sự ra đời của APEC

cuối những năm 1970, đặc biệt là trong những năm 1980, sự tăng trưởng kinh tế liên tục và với nhịp độ cao của châu Á mà nòng cốt là các nền kinh tế Đông Á đã thu hút sự chú ý của cả thế giới. Cùng với sự đi lên của Nhật Bản, các nền công nghiệp mới (NIEs), ASEAN và đặc biệt là sự nổi lên của Trung Quốc đã biến Châu Á thành khu vực phát triển kinh tế năng động bậc nhất Thế giới.

Từ những năm 1980, các nước châu Á luôn luôn dẫn đầu thế giới về tốc độ phát triển kinh tế trong khi kinh tế thế giới bị suy thoái vào đầu những năm 1990. Xuất khẩu thực sự là động lực tăng trưởng kinh tế ở các nước châu Á. Trong giai đoạn 1980-1992, xuất khẩu của các nước châu Á tăng nhanh nhất thế giới, đạt tốc độ bình quân hàng năm trên 10%, so với 4% của các nước châu Âu và Mỹ La-tinh và 6% của các nước công nghiệp phát triển vốn chiếm tới 2/3 thương mại thế giới. Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) vào các nước châu Á tăng mạnh, phần lớn từ Mỹ, Nhật Bản và các nền kinh tế NIEs.

Xu thế toàn cầu hoá phát triển mạnh, thể hiện qua sự phân công lao động quốc tế đan xen nhau dưới tác động của những tiến Khoa học - Công nghệ, đặc biệt là công nghệ thông tin.

Trong nền kinh tế thế giới, các hoạt động sản xuất, thương mại, tài chính và dịch vụ ngày càng được quốc tế hóa. Cùng với toàn cầu hóa và như một sự ứng phó với toàn cầu hoá, xu thế khu vực hóa cũng phát triển mạnh mẽ cả về chiều rộng và chiều sâu. Từ cuối những năm 1980, liên kết kinh tế khu vực ở châu Âu và Bắc Mỹ được đẩy mạnh thêm một bước. Các nước thuộc Liên hiệp châu Âu đã thoả thuận lập ra một thị trường chung vào năm 1992 và ráo riết lập kế hoạch cho một liên minh tiền tệ với một đồng tiền chung. Còn ở Bắc Mỹ, tháng 1 năm 1989 Mỹ và Ca-na-đa chính thức ký Hiệp định thành lập Khu vực Mậu dịch Tự do song phương (CAFTA). Trong khi đó, ở châu Á- Thái Bình Dương tuy có ổn định tương đối về chính trị, và là một khu vực năng động và có nhịp độ tăng trưởng kinh tế cao nhưng chưa có một hình thức liên kết nào có tính chất chính thức, liên chính phủ và toàn khu vực để bảo đảm lợi ích của các nước trong khu vực trước sự gia tăng ngày càng mạnh của chủ nghĩa khu vực bảo hộ ở Tây Âu và Bắc Mỹ.

Đến cuối năm 1980, khu vực Châu Á - Thái Bình Dương đã cho thấy rõ xu thế các nền kinh tế ngày càng tuỳ thuộc lẫn nhau một cách chặt chẽ hơn về nhiều mặt. Điều này cho thấy nhu cầu gắn kết, phối hợp giữa các nền kinh tế trong khu vực đang ngày một chuyển biến theo hướng tích cực. về thương mại, năm 1989, xuất khẩu hàng hóa của các nước châu Á - Thái Bình Dương sang Mỹ chiếm 25,8% tổng giá trị xuất khẩu của họ, trong khi đó xuất khẩu của Mỹ sang châu Á - Thái Bình Dương chiếm 30,5% tổng giá trị xuất khẩu của Mỹ. Xuất khẩu của Nhật Bản sang các nước châu Á - Thái Bình Dương chiếm 33% tổng kim ngạch xuất khẩu của Nhật Bản và giá trị xuất khẩu của châu Á - Thái Bình Dương sang Nhật Bản chiếm 9,8% tổng kim ngạch xuất khẩu của các nước này. Xuất khẩu của Nhật Bản sang Mỹ chiếm 34,2% giá trị xuất khẩu của Nhật Bản và xuất khẩu của Mỹ sang Nhật Bản chiếm 12,3% tổng giá trị xuất khẩu của Mỹ.

Tóm lại, chính sự tăng trưởng cao liên tục và phát triển của nền kinh tế ở khu vực châu Á - Thái Bình Dương, xu thế toàn cầu hóa và khu vực hóa cũng như sự tuỳ thuộc lẫn nhau ngày càng tăng giữa các nền kinh tế đã đặt ra yêu cầu khách quan về việc hình thành một diễn đàn mở rộng trong khu vực và phối hợp các chính sách kinh tế.

Quy chế thành viên và quan sát viên của APEC

Việc soạn thảo qui chế thành viên của APEC được giao cho các quan chức cao cấp của APEC thực hiện và đệ trình lên Hội nghị Bộ trưởng xem xét và Hội nghị các nhà Lãnh đạo Cấp cao APEC thông qua vào kỳ họp hàng năm tại Van-cu-vơ, Ca-na-đa, tháng 11 năm 1997. Về cơ bản, nước hoặc vùng lãnh thổ kinh tế, muốn trở thành thành viên APEC phải có đủ một số điều kiện cần thiết như sau: 1- Vị trí địa lý: Nằm ở khu vực châu Á - Thái Bình Dương, tiếp giáp với bờ biển Thái Bình Dương. 2- Quan hệ kinh tế: Có các mối quan hệ kinh tế chặt chẽ với các nền kinh tế thành viên APEC về thương mại hàng hóa và dịch vụ, đầu tư trực tiếp nước ngoài và sự tự do đi lại của các quan chức. 3- Tương đồng về kinh tế: Chấp nhận chính sách kinh tế mở cửa theo hướng thị trường. 4- Quan tâm và chấp thuận các mục tiêu của APEC: Tỏ rõ mối quan tâm mạnh mẽ tới các lĩnh vực hoạt động của APEC bằng cách tham gia vào các Nhóm công tác hoặc nghiên cứu độc lập và các hoạt động khác của APEC. Tuy nhiên, không có mối liên quan đặc biệt nào giữa việc tham gia vào các Nhóm công tác của APEC và việc trở thành thành viên. Nước muốn trở thành thành viên phải hoàn toàn chấp nhận những mục tiêu và nguyên tắc cơ bản được đề ra trong các Tuyên bố và Quyết định của APEC, kể cả các nguyên tắc đồng thuận và tự nguyện. Ngoài quy chế thành viên chính thức, APEC còn có quy chế quan sát viên dành cho ba tổ chức khu vực là Ban Thư ký ASEAN, Hội đồng Hợp tác Kinh tế Thái Bình Dương (PECC) và Diễn đàn Đảo Thái Bình Dương (PIF), không có quy chế quan sát viên cho một nước hay vùng lãnh thổ riêng biệt. Quan sát viên có thể tham dự các cuộc họp từ cấp Bộ trưởng trở xuống và tham gia vào các hoạt động của APEC. Các nước không phải thành viên APEC có thể được tham gia các hoạt động với tư cách khách mời tại các Nhóm công tác của APEC.

Mục tiêu và nguyên tắc hoạt động của APEC

Mục tiêu

- Tuyên bố Seoul 1991 đề ra 4 mục tiêu phát triển trong APEC gồm:

Duy trì tăng trưởng và phát triển, vì lợi ích chung của nhân dân các nền kinh tế trong khu vực, góp phần vào tăng trưởng và phát triển chung của kinh tế thế giới.

Phát huy những tác động tích cực của sự phụ thuộc kinh tế ngày càng tăng đối với kinh tế khu vực và thế giới, bằng cách đẩy mạnh sự giao lưu hàng hoá, dịch vụ, vốn và công nghệ.

Xây dựng và tăng cường hệ thống thương mại đa biên, vì lợi ích của Châu Á -Thái Bình Dương và các nền kinh tế khác.

Giảm dần những rào cản đối với thương mại hàng hoá và dịch vụ giữa các nền kinh tế thành viên phù hợp với các nguyên tắc của WTO, và không có hại đối với các nền kinh tế khác.

- Tuyên bố Bogor 1994 xác định mục tiêu của APEC là: thực hiện tự do hoá thương mại và đầu tư tại Châu Á- Thái Bình Dương đối với các nền kinh tế phát triển vào năm 2010 và đối với các nền kinh tế đang phát triển là 2020.

Nguyên tắc

- Cùng có lợi.  Do tính đa dạng của các nền kinh tế trong APEC  về chính trị, văn hoá, kinh tế  nên quá trình hợp tác phải bảo đảm được tất cả các nền kinh tế APEC, bất kể sự chênh lệch mức độ phát triển, đều có lợi.

- Nguyên tắc đồng thuận (consensus). Tất cả các cam kết của APEC phải dựa trên sự nhất trí của các thành viên.  Đây là nguyên tắc đã được các thành viên ASEAN áp dụng và thu được nhiều kết quả.

- Nguyên tắc tự nguyện.  Tất cả các cam kết của các thành viên APEC đều dựa trên cơ sở tự nguyện (Ví dụ như IAP).  Cùng với nguyên tắc đồng thuận,  đây là nguyên tắc khiến cho APEC trở nên khác với GATT/WTO.  Tất cả chương trình tự do hoá và thuận lợi hoá thương mại của APEC không diễn ra trên bàn đàm phán mà do các nước tự nguyện đưa ra.

- Phù hợp với nguyên tắc của WTO/GATT.  APEC cam kết thực hiện chế độ thương mại đa phương của WTO và không phải là một liên minh thuế quan, một Khu vực Tự do thương mại như NAFTA, AFTA.

Triển vọng hợp tác APEC

Đây là diễn đàn phát triển năng động nhất trên thế giới, APEC ngày càng tỏ rõ sức sống mạnh mẽ sau 19 năm tồn tại và phát triển, góp phần thúc đẩy mở cửa và hợp tác về kinh tế - thương mại giữa các nền kinh tế Châu Á - Thái Bình Dương.

Một trong những chủ đề của APEC 2001 về tự do hoá thương mại và đầu tư là “tăng cường tự do hoá thương mại và đầu tư” bên cạnh việc phổ biến lợi ích của toàn cầu hoá và nền kinh tế mới. APEC sẽ chuyển sang đặt trọng tâm vào việc cải thiện IAP như là công cụ chính đề tiến hành tự do hoá bằng cách xây dựng IAP điện tử (e-IAP). Các thành viên sẽ lần lượt tự nguyện tiến hành tham vấn rà soát (Peer Review).

Đến năm 2005, APEC đã hoàn thành tiến hành rà soát giữa kỳ quá trình thực hiện mục tiêu Bô-go của các thành viên, từ đó đề ra Lộ trình Bu-san, trong đó đưa ra những biện pháp cần thiết nhằm cố gắng mục tiêu Bô-go được thực hiện đúng thời hạn.

Năm 2006, kế hoạch hành động Hà Nội được thông qua là cơ sở cho các hoạt động hợp tác kinh tế thương mại của APEC trong 15 năm tới và góp phần tăng cường và hoàn thiện các cơ chế hợp tác của APEC. Các nền kinh tế APEC cũng thảo luận các mục tiêu của APEC sau khi hoàn thành mục tiêu Bô-gô.

Với những khó khăn đặt ra trong quá trình thực hiện tự do hoá, APEC sẽ tập trung nhiều hơn vào trụ cột thuận lợi hoá, coi đây là một biện pháp quan trọng nhằm thực hiện mục tiêu Bô-go. Tại Hội nghị Bộ trưởng Thương mại APEC được tổ chức tháng 6/2002 tại Thượng Hải, các Bộ trưởng đã thông qua “Bộ Nguyên tắc về Thuận lợi hoá Thương mại của APEC” và chỉ thị cho SOM triển khai các chương trình xây dựng năng lực nhằm giúp các thành viên thực hiện các nguyên tắc này trên cơ sở tự nguyện. Sau khi tổng kết mục tiêu giảm 5% chi phí giao dịch thương mại giai đoạn 2001-2006, APEC sẽ bắt đầu thực hiện mục tiêu giảm tiếp 5% chi phí giao dịch giai đoạn 2006-2010.

Trong bối cảnh thời hạn thực hiện mục tiêu Bô-gô đang đến gần, khu vực mậu dịch tự do Châu Á - Thái Bình Dương là một viễn cảnh đang được APEC bàn đến để cơ chế hiện thực hoá Bô-gô. Đồng thời, vấn đề hợp tác kinh tế kỹ thuật (ECOTECH), trong đó nhấn mạnh đến công tác xây dựng năng lực, thu hẹp khoảng cách, phát triển nguồn nhân lực đã và đang trở thành một vấn đề được đề cập nhiều trong APEC.

Trong bối cảnh toàn cầu hoá và Kinh tế mới cùng với sự phát triển nhanh chóng của công nghệ thông tin như hiện nay, các Nhà Lãnh đạo APEC nhận thức rõ sự cần thiết phải tập trung nhiều hơn vào các hoạt động hỗ trợ kỹ thuật nhằm giảm khoảng cách về phát triển trong APEC, giúp các thành viên đang phát triển theo kịp xu thế phát triển của kỷ nguyên công nghệ thông tin.

Trong những năm tới, bên cạnh việc chú trọng vào chương trình thuận lợi hoá thương mại và đầu tư, chương trình hợp tác kinh tế kỹ thuật cũng sẽ được đẩy mạnh hơn trong các hoạt động của APEC.

Trong bối cảnh thế giới đang thay đổi sâu sắc, chủ nghĩa khủng bố và sự gia tăng của các mối đe dọa phi truyền thống đang đặt ra những thách thức mới cho môi trường kinh doanh, đầu tư trong khu vực, APEC ngày càng quan tâm đến các vấn đề an ninh, chính trị, đẩy mạnh hợp tác về an ninh con người, chống tham nhũng, minh bạch hoá, an ninh con người.

Tuy nhiên, các thành viên APEC vẫn cho rằng nguyên tắc cơ bản của diễn đàn chính là việc duy trì bản chất hợp tác kinh tế cũng như những nguyên tắc cơ bản của diễn đàn này.

Với sự ra đời của Hội nghị Cấp cao Đông Á, các thành viên phát triển như Mỹ, Úc, Nhật càng quan tâm tới APEC, nâng cao cam kết với Diễn đàn này để làm đối trọng với Hội nghị Cấp cao Đông Á.

Ban Thư k‎ý APEC sẽ được củng cố theo hướng chuyên nghiệp hơn, với Giám đốc Điều hành theo nhiệm kỳ cố định, dự kiến bắt đầu từ năm 2009. Cải cách APEC sẽ là một quá trình lâu dài và phức tạp do một số thành viên phát triển muốn đẩy mạnh cải cách APEC theo hướng thể chế hóa trong khi những các thành viên đang phát triển khác vẫn mong muôn duy trì cơ chế hợp tác Diễn đàn của APEC.

Năm 2009 - Hợp tác APEC

Chủ đề được đưa ra "Duy trì tăng trưởng, kết nối khu vực", APEC tập trung vào 3 nội dung:  Hợp tác giải quyết khủng hoảng kinh tế, tài chính và chuẩn bị cho giai đoạn phục hồi; Thúc đẩy liên kết kinh tế khu vực châu Á – Thái Bình Dương; và Ủng hộ vòng đàm phán Đô-ha và chống lại chủ nghĩa bảo hộ. Hội nghị Bộ trưởng Thương mại APEC (21-22/7/2009) tập trung thảo luận các biện pháp triển khai ba ưu tiên trên để chuẩn bị cho HNCC vào tháng 11/2009. Ngoài ra, trong sáu tháng đầu năm 2009, APEC đã hoàn thành việc tuyển chọn Giám đốc điều hành BTK APEC chuyên trách nhiệm kỳ 2010 - 2013. 

Điều này cho thấy APEC đang thực hiện bước cải cách rất quan trọng trong việc quyết tâm thúc đẩy cải cách của các thành viên.

APEC tác động đến Việt Nam thế nào

Việt Nam chính thức gia nhập APEC từ năm 1998, điều này đã giúp Việt Nam có được môi trường quốc tế thuận lợi, vị thế quốc tế được nâng cao, đồng thời có điều kiện để mở rộng và đa dạng hoá thị trường, tranh thủ thêm vốn và công nghệ để phát triển.

Sự hợp tác trong khuôn khổ APEC đã giúp Việt Nam có những đổi mới hơn trong cơ chế chính sách thương mại và đào tạo lại nguồn nhân lực góp phần củng cố môi trường khu vực và quốc tế thuận lợi cho công cuộc xây dựng, bảo vệ Tổ quốc.

APEC la gi va APEC tac dong den Viet Nam the nao 2

APEC tác động đến Việt Nam thế nào, giúp Việt Nam mở ra các chính sách đổi mới để hội nhập với các nước trong khu vực nhằm phát triển kinh tế - xã hội

Năm APEC 2017, việc đăng cai tổ chức theo Thứ trưởng Bùi Thanh Sơn là một trọng tâm đối ngoại của Việt Nam trong giai đoạn quốc tế toàn diện, khẳng định quyết tâm đổi mới cũng như tham gia đóng góp vào việc định hình hợp tác đa phương.

Năm 2017 cũng là năm Việt Nam đăng cai Năm APEC lần thứ hai được sự tin cậy và tín nhiệm của các thành viên.

Điều này tạo cho Việt Nam cơ hội mới để tăng cường quan hệ kinh tế thương mại và đầu tư đối với các đối tác trong khu vực Châu Á - Thái Bình Dương. Đồng thời, tạo điều kiện tốt nhất để hoàn tất mục tiêu, chiến lược phát triển kinh tế - xã hội được đặt ra trong giai đoạn 2011 - 2017.

Năm APEC 2017 cũng mở ra nhiều cơ hội cho các doanh nghiệp, nhất là doanh nghiệp nhỏ và vừa, trong tiếp cận thị trường rộng lớn của các nền kinh tế thành viên, kết nối với các đối tác chiến lược tiềm năng, hưởng môi trường đầu tư, kinh doanh và điều kiện đi lại thuận lợi hơn, tiếp cận công nghệ và trình độ quản lý tiên tiến từ các tập đoàn hàng đầu thế giới..; đồng thời thúc đẩy các vấn đề quan tâm thông qua tham gia hợp tác, đối thoại của APEC.

Theo ông Huỳnh Vĩnh Ái, việc Việt Nam đăng cai APEC 2017 cũng là dịp để quảng bá hình ảnh, điểm du lịch miễn phí cho khách tham dự APEC. Ý tưởng tổ chức vườn tượng APEC sẽ diễn ra tại Đà Nẵng. Đồng thời cũng có thêm các chương trình và hoạt động văn hoá nhằm đem đến nghệ thuật đặc sắc, ẩm thực Việt Nam tiếp đón.