Khẩu lệnh 'lạ' của nguyên Tổng bí thư Đỗ Mười khi địch đi càn

06:48 07/10/2018

Một câu chuyện vui về nguyên Tổng bí thư Đỗ Mười được nguyên Tham mưu trưởng Mặt trận 5, Tham mưu phó khu Tả Ngạn Nguyễn Sáng kể lại.

khau-lenh-la-cua-nguyen-tong-bi-thu-do-muoi-khi-dich-di-can
Nguyên Tổng bí thư Đỗ Mười nói chuyện thân mật với các bạn tù nhân cuộc họp mặt truyền thống của các chiến sĩ cách mạng bị địch bắt tù đày tại nhà tù Hỏa Lò lần thứ nhất năm 1993. Ảnh tư liệu

Xin giới thiệu tới bạn đọc một số trích đoạn trong bài "Những kỷ niệm sâu sắc về anh Đỗ Mười" của nguyên Tham mưu trưởng Mặt trận 5, Tham mưu phó khu Tả Ngạn Nguyễn Sáng viết vào năm 1998 được đăng trong cuốn "Đồng chí Đỗ Mười - Dấu ấn qua những chặng đường lịch sử" của NXB Chính trị quốc gia - Sự thật:

...Khi lập Khu Tả Ngạn, đồng chí Đỗ Mười làm Bí thư Khu ủy kiêm Chính ủy; đồng chí Nguyễn Khai làm Phó Chính ủy kiêm Tư lệnh khu; đồng chí Dương Hữu Miên làm Phó Tư lệnh kiêm Tham mưu trưởng; tôi làm Tham mưu phó. Toàn bộ cơ quan Mặt trận 5 chuyển sang là cơ quan ngành quân sự của Khu Tả Ngạn. Chúng tôi có nhiều kỷ niệm đẹp về anh Đỗ Mười, khi ấy là Bí thư Khu ủy kiêm Chủ tịch Ủy ban Kháng chiến hành chính khu, kiêm Chính ủy Khu Tả Ngạn.

Khi anh Mười sang lãnh đạo Khu Tả Ngạn, là thời kỳ cục diện đồng bằng Bắc Bộ có sự thay đổi, nói chung, theo chiều hướng có lợi cho ta. Nhưng với Khu Tả Ngạn bấy giờ có khác. Sau khi quân Pháp bị thất bại nặng nề phải rút chạy khỏi Hòa Bình (cuối tháng 11/1951), Tướng Salăng, Tổng chỉ huy quân viễn chinh Pháp ở Đông Dương, tập trung lực lượng cơ động, tiến hành bình định ráo riết đồng bằng Bắc Bộ, mà trọng điểm là vùng tả ngạn sông Hồng (Thái Bình, Hưng Yên, Hải Dương, Hải Phòng, Kiến An), kho người, kho của phong phú, nhằm thực hiện âm mưu "lấy chiến tranh nuôi chiến tranh, dùng người Việt đánh người Việt". 

... Làm việc với anh, chúng tôi đều thấy rất thoải mái, nhưng phải chuẩn bị thật kỹ, thật tỉ mỉ, cụ thể. Vì sau khi nghe báo cáo xong, anh đều đặt ra những giả thuyết, những câu hỏi, những phán đoán tình huống... làm cho anh em chúng tôi phải suy nghĩ, động não. Đúng hay sai cứ tự do phát biểu. Cuối cùng chúng tôi nhận được những lời giải đáp rất đúng, rất trúng, mà chúng tôi cứ bình luận với nhau là "ý kiến cụ rất chính xác". Chưa có lần nào anh phán đoán sai về diễn biến tình hình địch. Điều đó giúp chúng tôi nâng dần trình độ suy xét, phán đoán. 

Khó nhất là phán đoán hành động của địch. Địch thì rất xảo quyệt. Có khi chúng kéo quân từ Hà Nội, Hải Phòng về tập kết ở thị trấn Ninh Giang (Hải Dương), rồi từ đây, dựa vào phương tiện vận tải thủy, bộ, chúng có thể đột ngột kéo lên phía bắc sông Luộc, càn Hưng Yên, Hải Dương, hoặc xuống phía nam sông Luộc là Thái Bình, Kiến An. Ta căn cứ vào sự nắm bắt tình hình của tình báo các địa phương, kết hợp với sự nhận định, phán đoán rồi từ đó mà khẳng định địch sẽ càn quét ở đâu, hướng nào là trọng điểm, hướng nào là mập mờ nghi binh.

Những lúc này, anh Mười cùng các đồng chí trong Bộ Tư lệnh khu gọi anh em tham mưu, kể cả trợ lý tác chiến, đến báo cáo tình hình cụ thể, dân chủ đề xuất ý kiến phán đoán của mình. Cuối cùng, anh Mười phân tích, kết luận và khẳng định về ý đồ của địch.

Tôi nhớ khoảng cuối năm 1952, địch dùng lực lượng khá lớn, 3 - 4 binh đoàn cơ động, phần lớn là quân Âu - Phi, càn khu vực nam và bắc huyện Thanh Hà (Hải Dương). Địch dùng từ 1 đến 2 binh đoàn càn quét một làng, một xóm, rồi chốt lại ở đó qua đêm. Hằng ngày địch lùng sục, dẫm nát đường sá, đào bới vườn tược, tìm bắt người của ta.

Ở đây có con sông Ruột Lợn bao quanh huyện. Chiều chiều, thủy triều dâng lên, nước con sông dâng theo. Mọi lần bộ đội du kích thường xuống hầm bí mật để đến đêm lên đánh địch. Nhưng lần này địch có quá nhiều quân ở một thôn, một xóm, dù có lên được ta cũng khó hoạt động, ở lại hầm suốt đêm thì hầm ngập nước và không ai tiếp tế vì dân bị địch dồn đi tập trung. 

Trước thực tế đầy khó khăn đó, anh Mười xem xét rồi chỉ thị cho địa phương kiên quyết cho rút hết cán bộ cơ sở sang bên kia sông, tạm thời chưa hoạt động, chỉ để một vài cán bộ cơ sở nhiều tuổi, già yếu ở lại trà trộn tập trung với dân để nắm tình hình. Nhờ tính quyết đoán rất nhanh, rất trúng của anh Mười, mà anh em chúng tôi bớt ám ảnh về chuyện "địch đến, không đánh mà lại rút ra ngoài". Thực tế cho thấy đây là một quyết định đúng đắn, táo bạo, tránh được tổn thất, tạm lùi để rồi tiến.

Có lần vào một tối mùa đông, chúng tôi được tin địch sẽ càn vào khu vực mà Bộ Tư lệnh khu đang ở. Anh em được lệnh ăn cơm sớm để chuyển địa điểm, đánh càn. Đêm tối mịt mùng, anh Khai, anh Miên và anh em cơ quan ra xếp hàng một ở đầu xóm. Tôi vào chỗ anh Mười. Anh đã sẵn sàng chờ ở sân, khoác tay nải cùng đồng chí bảo vệ đi ngay. Tôi lại nhanh chân ra chỗ xếp hàng, đếm lại thấy thiếu 3-4 người. Tôi vội quay lại để thúc giục. Hạn chế dùng đèn pin tôi luồn từ chái nhà nọ sang nhà kia, theo lối tắt tìm anh em, khiến các anh phải đứng chờ tới 15 - 20 phút.

Chúng tôi vừa ra đến chỗ xếp hàng quân, khoảng 12 người, thì thấy anh Mười nói khẽ nhưng đủ nghe: "Cậu để mình chỉ huy". Nói xong, anh đi lên phía trước khẽ hô: "Đứng nghiêm! Bước đi, bước".

Tôi đi cuối cùng thấy mấy tiếng cười khúc khích. Có tiếng hỏi: - Bố nào lại hô thế? Làm gì có khẩu lệnh: "Đứng nghiêm! Bước đi, bước". Và có tiếng trả lời: "Khẽ chứ, cụ Ngạn hô đấy!". Hiểu ra, anh em lại khúc khích cười.

Kỷ niệm về anh Mười nhiều khi sâu đậm đến lớn lao, nhưng có khi chỉ đơn giản thế thôi. Nói chung, chúng tôi cảm nhận được lúc nào anh cũng dân chủ, cởi mở, rộng lượng, không cáu gắt với ai, anh em rất dễ gần anh.

Tới địa điểm mới, anh Mười cùng các anh trong Bộ Tư lệnh và cơ quan lại thâu đêm suốt sáng theo dõi cuộc càn mới của địch.

Anh Mười hơn tuổi chúng tôi nhưng làm việc rất say sưa, không biết mệt mỏi, nên có sức động viên, cổ vũ chúng tôi. Có lần họp, đồng chí nào đó hút thuốc lá thơm Côtáp. Anh Mười liền hỏi: "Cậu nào đốt nhà dân đây?". Chúng tôi đang mải nghe anh truyền đạt văn bản, bỗng nghe một câu hỏi lạc đề, chưa hiểu anh nói gì. Anh vừa cười vừa nhắc lại: "Cậu nào "đốt nhà dân" thì dập ngay đi!". Chúng tôi mới hiểu là anh nhắc khéo về hút thuốc lá thơm đắt tiền, lãng phí. 

Nói về Khu Tả Ngạn sông Hồng với bao kỷ niệm gian khổ nhưng cũng rất sâu nặng tình đồng chí, đồng đội, chúng tôi không bao giờ quên các anh Nguyễn Khai, Đặng Tính, Dương Hữu Miên và nhiều anh khác đã về cõi vĩnh hằng, và cũng không bao giờ quên những kỷ niệm về anh Đỗ Mười, vị Chính ủy, người đồng đội rất thân thiết của chúng tôi!.

*Tiêu đề do Vietnamnet đặt



Tin khác