Xã hội
29/08/2016 17:59Nguyễn Phúc Giác Hải là ai và tiểu sử nhà nghiên cứu tâm linh Nguyễn Phúc Giác Hải
Nguyễn Phúc Giác Hải là ai và tiểu sử nhà nghiên cứu tâm linh Nguyễn Phúc Giác Hải: Tiểu sử và sự nghiệp
Nguyễn Phúc Giác Hải sinh năm Giáp Tuất, ngày 29/11/1934 tại Hải Phòng trong một gia đình nhà giáo. Quê ông ở Phú Xuyên, Hà Tây cũ. Nhà tử vi học nổi tiếng thời đó là Phạm ứng Long (tục gọi là Nhì Lùng người Hoa) chính tay lập lá số tử vi cho cậu bé. Cứ theo tử vi mà xét, cậu bé này lắm tài, nhưng bị tuần triệt vào cả hai cung quan và điền. Nhưng còn may ở chỗ “tuần triệt đắc địa”

Nguyễn Phúc Giác Hải là ai và tiểu sử nhà nghiên cứu tâm linh Nguyễn Phúc Giác Hải (người ngồi giữa)
.Đi học say mê môn vật lý và có ý định theo học ngành này. Ngay khi đang là học sinh đã sáng tác truyện thám hiểm Tây Nguyên. Tưởng tượng ra cuộc chiến sinh tử giữa Voi và Sư tử. Truyện được in. Người bố của bạn đọc và khen, nhưng lại chê… vì Tây Nguyên làm gì có …sư tử. Ông nhớ lại, lúc ấy mình rất xấu hổ, quyết tâm lao vào học sinh vật. Bởi thế thi vào Đại học khoa học ngành Lý – Hoá – Vạn, sau đó chuyển sang lớp sinh học Đại học Sư phạm. Dạy sinh học tại Trường Bổ túc công nông trung ương, từng dạy Thủ tướng Phan Văn Khải, nhưng lại tham gia vào tổ tuyên truyền về du hành vũ trụ của GS Tạ Quang Bửu.

Nguyễn Phúc Giác Hải sinh năm Giáp Tuất, ngày 29/11/1934 tại Hải Phòng
Năm 1963, ông viết cuốn Những điều kỳ lạ trong thế giới sinh vật, Nhà xuất bản Giáo dục xuất bản. Bộ trưởng Bộ Giáo dục Nguyễn Văn Huyên đã gửi tặng bằng khen cho cuốn sách này. Sau đó, ông về công tác tại Uỷ ban Khoa học Nhà nước nghiên cứu về di truyền học, một lĩnh vực mới mẻ , chưa được quan tâm ở nước ta.
Năm 1965, trong khi sinh học thời đó còn bị chi phối bởi quan điểm Lưxencô, Nguyễn Phúc Giác Hải đã viết bài bênh vực học thuyết di truyền của Menđen nhân 100 năm học thuyết này ra đời. Rồi năm 1966 ông đề xuất việc thành lập Hội di truyền học Việt Nam, và ông đóng vai trò như tổng thư ký hội đầu tiên.

Nguyễn Phúc Giác Hải là ai và tiểu sử nhà nghiên cứu tâm linh Nguyễn Phúc Giác Hải. Ông miệt mài với những nghiên cứu
Khoảng năm 1974, ông Hải chú ý đặc biệt về khả năng chữa bệnh kỳ lạ của cụ Trưởng Cần (Nhà văn hóa tâm linh, lương y), vì hồi ấy chưa thể công khai nên ông âm thầm tiến hành nghiên cứu tìm hiểu. Một lần ông giới thiệu cho một quan chức đến cụ Trưởng Cần chữa bệnh và có hiệu quả. Đùng một cái ngày tại họa đến, báo chí Hà Nội cho rằng cụ Trưởng Cần hành nghề “mê tín dị đoan”, phê phán việc làm của “một lão phù thuỷ và nhà khoa học”. Sau đó cơ quan xét kỷ luật ông Hải, nếu như ông nhận khuyết điểm thì chỉ bị xử lý nhẹ, tuy nhiên ông không đồng ý ký biên bản vi phạm pháp luật, nên giữa năm 1976 người ta buộc ông thôi việc.

Sau "lần ấy, bác phải nghỉ việc. Mức lương thực từ 13,5 kg hạ xuống còn 11 kg! Cú sốc này không chỉ mình bác gánh chịu, vợ bác và hai con bác cũng vô cùng hoang mang...
"Thời bao cấp, cái lý lịch và biên chế nhà nước như là một "chứng chỉ về đạo đức" nên có người gợi ý với tôi rằng: muốn giữ được lý lịch trong sạch cho vợ con thì chỉ có con đường tốt nhất là... ra toà ly dị! Và vợ chồng tôi đã làm như vậy!?".
Nào ngờ ly hôn giả hoá thật! Năm 1977, bà không chịu đựng nổi nên đã mang con vào Nam sinh sống.Ông Giác Hải nói: Chính cái ngày tôi và vợ chia tay cũng là ngày vừa tròn 19 năm chúng tôi cưới nhau.
Xem lại lịch, tôi biết thêm một điều rằng trong tự nhiên có một chu kỳ bí ẩn. Cứ sau 19 năm thì cả ngày âm và ngày dương sẽ lại trùng nhau. Từ phát hiện đó, cộng với niềm ham mê vật lý từ nhỏ, tôi đã tìm tòi, nghiên cứu để giải mã những hằng số vũ trụ. Không những thế, tôi còn tham gia vận động thành lập Hội thiên văn học Việt Nam và cho đến nay tôi vẫn là một thành viên trong Hội…”.
Sự nghiệp tiếp tục phát triển...
Năm 1983, tờ Tuần tin tức Mat-xcơ-va (Les Nouvelles de Moscow) có đăng tin về Cuộc thi Tìm hiểu về nước Nga. Ông ngồi gõ thẳng bằng tiếng Pháp bài dự thi vào chiếc máy chữ cũ kỹ, gửi dự thi và giành giải nhất: một chuyến đi thăm Liên Xô.Và rồi trong cuộc thi nhân ngày kỷ niệm 40 năm chiến thắng phát xít của Đài PT&TH Tasken, ông lại dự thi và lại giành giải Nhất.
Năm 1985, ông lại được mời sang thăm nước Nga và phát biểu trên truyền hình. Dòng lưu bút "Nhân danh sự sống trên trái đất" của ông tại nghĩa trang các liệt sĩ vô danh, được lấy làm tít cho các bài báo xuất bản ở Nga bằng nhiều thứ tiếng lúc đó...

Nguyễn Phúc Giác Hải là ai và tiểu sử nhà nghiên cứu tâm linh Nguyễn Phúc Giác Hải. Năm 1985, ông lại được mời sang thăm nước Nga và phát biểu trên truyền hình
Ở trong nước, ông Giác Hải là một nhà nghiên cứu, nguồn thu nhập chính của bác là viết báo về lĩnh vực mình say mê, am hiểu là tiềm năng con người, được độc giả đón nhận, nhưng với cái "án" từ trước, không báo nào còn dám đăng bài của bác. Không kiếm tiền bằng ngòi bút được, bác xoay trần, ngày luyện thi đại học, đêm tay kìm tay búa làm đồ chơi trẻ con bán lấy tiền độ nhật và đóng góp nuôi con.

Nguyễn Phúc Giác Hải là ai và tiểu sử nhà nghiên cứu tâm linh Nguyễn Phúc Giác Hải. Ông Hải trong một buổi nghiên cứu thực tế
Ông bảo trong hoạ có phúc. Vì ra khỏi những công việc nghiên cứu trong khuôn khổ cứng nhắc, ông có điều kiện tự do nghiên cứu những gì trực giác mách bảo là có ý nghĩa quan trọng. Mãi đến 14 năm sau, do kiên trì khiếu nại ông mới được trở lại công tác tại Viện Khoa học Việt Nam và chính thức được giao nghiên cứu những khả năng tiềm ẩn của con người theo đúng nguyện vọng của mình.

Sau ngày giải phóng ông có dịp vào TP Hồ Chí Minh sục tìm trong các thư viện các loại sách có liên quan mà ở miền Bắc không có. Một số sách của ông được tái bản, có tiền nhuận bút, ông dành tất cả để mua sách, đặc biệt mua được hai bộ Kinh Dịch của Ngô Tất Tố và của Phan Bội Châu. Từ đó ông bước vào nghiên cứu Kinh Dịch và ngộ ra rất nhiều điều.
Sau khi về hưu, ông vẫn tiếp tục công việc của mình trên cương vị chủ nhiệm bộ môn Dự báo trong Trung tâm nghiên cứu tiềm năng con người thuộc Liên hiệp các hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam.Cuốn sách: Nguyễn Đức Cần – Nhà văn hóa tâm linh của ông viết đã trở thành sách gối đầu giường của nhiều người.
Hành trình đi tìm tên nước Việt Nam của nhà nghiên cứu Nguyễn Phúc Giác Hải
Do tự học tự nghiên cứu là chính mà ông Nguyễn Phúc Giác Hải đã trở thành một nhà nghiên cứu hàng đầu về tiềm năng con người, một lĩnh vực khoa học mới, còn nhiều bí ẩn. Tất cả các hiện tượng thuộc tâm linh và tiềm năng con người đều được ông nghiên cứu cặn kẽ và có những kiến giải khoa học. Điều đặc biệt ông đã đầu tư công sức và trí tuệ là tìm hiểu về tên nước Việt Nam.
Trong lịch sử, đất nước ta đã có nhiều tên gọi: Văn Lang (thời Hùng Vương), Âu Lạc (thời An Dương Vương), Vạn Xuân (thời Lý Bí), Đại Cồ Việt (thời Đinh Tiên Hoàng), Đại Việt (thời Lý)… Bắt đầu từ đầu nhà Nguyễn (1804) nước ta mới có quốc hiệu Việt Nam. Trong việc giải mã sấm Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm (1491-1585), nhà nghiên cứu Nguyễn Phúc Giác Hải đã phát hiện ngay trong trang đầu của bản Trình tiên sinh quốc ngữ (Bản chữ Nôm, một dị bản của Sấm Trạng Trình) đã có câu: “…Việt Nam khởi tổ xây nền…”.

Nguyễn Phúc Giác Hải là ai và tiểu sử nhà nghiên cứu tâm linh Nguyễn Phúc Giác Hải. Hành trình đi tìm tên nước Việt nam
Để khẳng định chắc chắn hơn, nhà nghiên cứu Nguyễn Phúc Giác Hải cùng đồng nghiệp đã đi sâu tìm hiểu các trước tác thơ văn của Nguyễn Bỉnh Khiêm. Một điều may mắn là ông đã tìm thấy trong các tác phẩm thơ văn, Nguyễn Bỉnh Khiêm đã 3 lần nhắc đến tên nước Việt Nam. Cả 3 lần trong 3 bài thơ chữ Hán. Ba bài thơ ấy đều được tập hợp trong Bạch Vân am thi tập (kí hiệu A 296-Viện Hán Nôm). Như vậy căn cứ vào Sấm Trạng Trình, căn cứ vào thơ văn của Nguyễn Bỉnh Khiêm, nhà nghiên cứu Nguyễn Phúc Giác Hải đã có kết luận: Tên nước: VIỆT NAM đã xuất hiện từ thế kỉ XVI.
Để có đủ luân cứ khoa học, ông đã lục tìm trong các bộ sử lớn, trên 2 vạn bản dập văn bia của Viện Hán Nôm và đến các tỉnh sưu tầm những văn bia ở các đình chùa. Theo ông, một điều kì lạ là trong các bộ sử lớn như Đại Việt sử ký toàn thư thời Lê, Việt sử thông giám cương mục thời Nguyễn không hề có dòng nào nhắc đến hai chữ Việt Nam. Nhưng may thay, nhờ bạn bè và đồng nghiệp, ông đã phát hiện được hai chữ Việt Nam trên các văn bia.
Tấm bia thứ nhất có hai chữ Việt Nam được khắc năm 1558, thời Mạc tại chùa Bảo Lâm huyện Chí Linh, tỉnh Hải Dương. Ông đã về Hải Dương để dò tìm vết tích của chùa Bảo Lâm nhưng rất tiếc chùa và bia nay không còn nữa, chỉ còn lại bản dập văn bia lưu giữ ở Viện Hán Nôm. Theo ông đây là tấm bia cổ nhất có hai chữ Việt Nam.
Tấm bia thứ hai có hai chữ Việt Nam, nhờ sự giúp đỡ của đồng nghiệp, ông tìm thấy cũng là một tấm bia thời Mạc tại chùa Cam Lộ, thuộc xã Đào Xá, huyện Phú Xuyên, thuộc Hà Tây (cũ). Chùa Cam Lộ không còn nhưng vẫn còn tấm bia được đặt trong một cái am nhỏ. Bia dựng năm 1590, thời Mạc.
Tấm bia thứ ba có hai chữ Việt Nam là tấm bia dựng năm 1664 tại chùa Phúc Thành, xã Mộ Đạo, huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh. Chùa Phúc Thành và tấm bia nay không còn nữa nhưng bản dập văn bia vẫn còn lưu giữ tại Viện Hán Nôm.
Tấm bia thứ tư, rất đặc biệt là bia Thủy Môn Đình được dựng tại Đồng Đăng, Lạng Sơn cách ải Nam quan (Hữu nghị quan) 2km do Đô tổng binh, Bắc quân đô đốc xứ Lạng Sơn Nguyễn Đình Lộc soạn năm 1670. Bài minh trên bia Thủy Môn Đình có hai dòng mở đầu: Việt Nam hầu thiệt - Trấn bắc ải quan… (Đây là cửa ngõ, yết hầu của Việt Nam và là ải quan trấn giữ phương Bắc…). Tấm bia có ý nghĩa quan trọng là khẳng định chủ quyền đất nước đồng thời đã danh xưng quốc hiệu Việt Nam. Ngoài bốn tấm bia nói trên, theo nhà nghiên cứu Nguyễn Phúc Giác Hải các nhà sưu tầm ở Viện Hán Nôm còn phát hiện thêm 5 tấm bia có tên Việt Nam nữa.
Năm 2005, ông đã sang tận Thủ đô Luân đôn nước Anh tìm tên nước Việt Nam trên một tấm bản đồ của một vị quan đời nhà Thanh (Trung Quốc) còn được lưu giữ trong Thư viện Hoàng gia Anh. Đó là tấm bản đồ “Việt Nam địa dư đồ” của của tác giả Xa Khâu Từ Diên Húc. Điều đáng quí ở tấm bản đồ này là tác giả Trung Quốc không chỉ đã dùng danh xưng quốc hiệu Việt Nam mà còn khẳng định rằng các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là của Việt Nam.
Như vậy, theo nhà nghiên cứu Nguyễn Phúc Giác Hải tên nước Việt Nam không phải xuất hiện từ đầu nhà Nguyễn, năm 1804 mà trước đó từ thời nhà Mạc, cái tên Việt Nam đã xuất hiện trong tác phẩm của Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm và các văn bia. Có thể có nhiều nhà nghiên cứu, nhà sử học đi tìm danh xưng quốc hiệu Việt Nam, nhưng qua hành trình công phu, vất vả của mình, Nhà nghiên cứu về tiềm năng con người Nguyễn Phúc Giác Hải đã có công lớn khẳng định về sự ra đời của danh xưng quốc hiệu Việt Nam.