Thời sự
06/05/2020 14:28Nguyên tắc suy đoán vô tội là gì? Áp dụng vụ án Hồ Duy Hải được không?
Phiên giám đốc thẩm vụ án Hồ Duy Hải diễn ra sáng 6/5.
Phiên tòa giám đốc thẩm xét xử Hồ Duy Hải bị kết án tử hình về 2 tội "Giết người" và "Cướp tài sản" xảy ra tại Bưu điện Cầu Voi (Long An) năm 2008, thu hút sự quan tâm của dư luận.
Đây là vụ án đặc biệt có nhiều tình tiết bất ngờ, việc điều tra, xét xử ở cấp sơ thẩm và phúc thẩm được VKSND Tối cao nhận định chưa phù hợp với những tình tiết khách quan của vụ án; việc thu thập, đánh giá các chứng cứ, tài liệu chưa đầy đủ, nhiều nội dung cần chứng minh của vụ án còn mâu thuẫn nhưng chưa được làm rõ.
Hàng loạt các tình tiết mâu thuẫn trên được nhiều luật sư đánh giá các cơ quan tố tụng trước đó chưa áp dụng chưa triệt để nguyên tắc suy đoán vô tội trong xét xử.
Vậy câu hỏi được dư luận đặt ra là Nguyên tắc suy đoán vô tội là gì? Có thể áp dụng trong vụ án của tử tù Hồ Duy Hải không?
Nguyên tắc suy đoán vô tội là gì?
Trao đổi với PV, luật sư Diệp Năng Bình (Đoàn Luật sư TP HCM) cho hay: Nguyên tắc suy đoán vô tội là nguyên tắc của một loại hình tố tụng lấy các giá trị công bằng, bình đẳng làm nền tảng; là lá chắn quan trọng và hữu hiệu cho việc tôn trọng bảo vệ và bảo đảm quyền con người trong tố tụng.
Hiến pháp năm 2013 đặt ra quy định tại Chương II – “Quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân” như sau: “Người bị buộc tội được coi là không có tội cho đến khi được chứng minh theo trình tự luật định và có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật” (khoản 1, Điều 31 Hiến pháp năm 2013). Đó chính là nội dung đầy đủ của một nguyên tắc pháp lý quan trọng: Nguyên tắc suy đoán vô tội.
"Đây là một nguyên tắc có ý nghĩa chính trị to lớn, và vì thế đã vượt ra ngoài phạm vi và nội dung pháp lý của nó nhằm ghi nhận địa vị của con người, tự do và dân chủ, ghi nhận mối liên hệ giữa tự do và trách nhiệm, dân chủ và pháp luật trong xã hội", luật sư Diệp Năng Bình phân tích.
Luật sư Diệp Năng Bình.
Để thi hành Hiến pháp, bảo đảm sự phù hợp của pháp luật tố tụng hình sự với Hiến pháp, BLTTHS tại Điều 13 đã quy định một nguyên tắc hoàn toàn mới của tố tụng hình sự Việt Nam, đó là “nguyên tắc suy đoán vô tội” với nội dung như sau:
“Người bị buộc tội được coi là không có tội cho đến khi được chứng minh theo trình tự, thủ tục do Bộ luật này quy định và có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật.
Khi không đủ và không thể làm sáng tỏ căn cứ để buộc tội, kết tội theo trình tự, thủ tục do Bộ luật này quy định thì cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải kết luận người bị buộc tội không có tội”.
Giá trị của suy đoán vô tội được xem xét ở hai phương diện: Phương diện chứng minh và phương diện đối xử. Ở phương diện chứng minh cần bắt đầu từ vấn đề cơ bản nhất là bản chất của TTHS đó là quá trình nhận thức về sự thật của vụ án. Kết luận buộc tội của cơ quan tiến hành tố tụng phải đảm bảo không còn nghi ngờ hợp lý. Ngược lại, nếu kết luận đó vẫn còn nghi ngờ hợp lý thì quá trình chứng minh chưa đủ để kết tội.
Chung nhận định, luật sư Hoàng Tùng (Đoàn Luật sư TP Hà Nội) cho biết: Trách nhiệm chứng minh tội phạm thuộc về cơ quan có thẩm quyền tố tụng ( cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án) được quy định tại điều 15 Bộ luật này “ Trách nhiệm chứng minh tội phạm thuộc về cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng. Người bị buộc tội có quyền nhưng không buộc phải chứng minh là mình vô tội.
Trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình, cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải áp dụng các biện pháp để xác định sự thật của vụ án một cách khách quan, toàn diện và đầy đủ, là, rõ chứng cứ xác định có tội và chứng cứ xác định vô tội, tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của người bị buộc tội”.
"Nếu không thể chứng minh được rõ sự nghi ngờ thì cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải kết luận cho người bị buộc tội là vô tội...", Luật sư Hoàng Tùng.
Toàn bộ quá trình chứng minh tội phạm phải tiến hành một cách chặt chẽ theo trình tự, thủ tục do luật quy định; phải đảm bảo đầy đủ và thuận lợi nhất những điều kiện để người bị buộc tội thực hiện quyền bào chữa.
"Như đã đề cập đến ở bên trên, người bị buộc tội không bắt buộc phải có trách nhiệm chứng minh mình có tội ( nhưng họ vẫn có quyền) mà trách nhiệm này thuộc về các cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng.
Do đó, để khẳng định một người có tội và kết tội họ thì cần phải làm sáng tỏ căn cứ buộc tội và phải thu thập đầy đủ các căn cứ đúng với pháp luật yêu cầu thì mới có thê tiến hành kết tội một người.
Vì vậy, khi căn cứ chưa đủ hoặc bất kì một căn cứ nào chưa được làm rõ thì không thể kết tội theo trình tự, thủ tục đã được quy định. Khi đó, tất cả các nghi ngờ đều được giải thích theo hướng có lợi cho người bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Nếu không thể chứng minh được rõ sự nghi ngờ thì cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải kết luận cho người bị buộc tội là vô tội.
Nguyên tắc suy đoán vô tội có thể được áp dụng với tử tù Hồ Duy Hải hay không?
Trở lại với vụ kỳ án Bưu điện Cầu Voi với hàng loạt tình tiết kỳ lạ, Luật sư Diệp Năng Bình cho rằng: Theo kháng nghị của Viện KSND tối cao, bản án sơ thẩm và phúc thẩm có nhiều nhận định và kết luận chưa phù hợp với tình tiết khách quan vụ án; việc thu thập, đánh giá chứng cứ, tài liệu chưa đầy đủ; nhiều nội dung cần chứng minh của vụ án còn mâu thuẫn nhưng chưa được làm rõ.
Luật sư Hoàng Tùng.
Việc điều tra xét hỏi tại phiên tòa phiến diện hoặc không đầy đủ; kết luận trong bản án hoặc quyết định không phù hợp với những tình tiết khách quan của vụ án; Có sự vi phạm nghiêm trọng trong thủ tục tố tụng trong điều tra, truy tố, xét xử; có những sai lầm nghiêm trọng trong việc áp dụng Bộ luật Hình sự.
"Theo kháng nghị, chứng cứ để buộc tội Hồ Duy Hải là hoàn toàn không có cơ sở.
Vì thế, cần thiết phải tuyên Hồ Duy Hải vô tội...", Luật sư Diệp Năng Bình.
Hồ sơ quy kết, Hồ Duy Hải sát hại 2 nạn nhân bằng hàng loạt các động tác như: bóp cổ, kéo thi thể, dùng dao, thớt, ghế đập đầu, cắt cổ 2 nạn nhân. Biên bản khám nghiệm hiện trường ghi nhận “trên kính (cửa vào buồng ngủ) có dấu vết đường vân” (vân tay người).
Ngoài ra trong các cáo trạng còn nói rõ, khi gây án Hải không sử dụng bao tay, không có hành động xóa dấu vết tại hiện trường gây án.
"Vậy chắc chắn phải thu giữ được dấu vân tay của Hải tại hiện trường vụ án? Nhưng tại bản kết luận giám định số 158 ngày 11/4/2008 của Phòng Kỹ thuật hình sự, Công an tỉnh Long An lại khẳng định “có dấu vết vân tay thu giữ được tại hiện trường vụ án… không phát hiện trùng với điểm chỉ 10 ngón in trên chỉ bản của Hồ Duy Hải...
Như vậy, chứng cứ để buộc tội Hải là hoàn toàn không có cơ sở. Vì thế, cần thiết phải tuyên Hồ Duy Hải vô tội", Luật sư Diệp Năng Bình nhận định.
Luật sư Diệp Năng Bình cũng cho rằng: Thực tiễn của các hoạt động điều tra, truy tố và xét xử cho thấy, có một khuynh hướng nhìn nhận bị can, bị cáo như là người đã được coi là phạm tội, dù tội trạng của họ chưa được chứng minh. Khuynh hướng đó được gọi là khuynh hướng buộc tội, còn luật học thì gọi đó là “suy đoán có tội”. Đó chính là một trong những nguyên nhân của vấn đề án oan, sai hiện nay.
Từ nguyên tắc suy đoán vô tội, luật sư Hoàng Tùng cho rằng: Đối với sự việc của tử tù Hồ Duy Hải tiến hành kêu oan hơn chục năm nay, hiện tại đang tiến hành thủ tục giám đốc thẩm. Trong đó tại các tổng kết, nghiên cứu hồ sơ vụ án đã đưa ra được rất nhiều điểm sai sót nghiêm trọng trong quá trình điều tra, xét xử vụ án.
Những sai xót đó ảnh hưởng trực tiếp đến sự thật khách quan, quyền và lợi ích của người bị buộc tội là tử tù Hồ Duy Hải.
"Các sai phạm được chỉ ra thể hiện căn cứ để buộc tội Hồ Duy Hải là chưa đầy đủ, chưa rõ ràng. Không thể cưỡng ép ra một quyết định, kết luận hay bản án phán Hồ Duy Hải phạm tội được. Bởi việc không chứng minh được Hồ Duy Hải phạm tội là trách nhiệm của cơ quan tố tụng, căn cứ không rõ ràng, thiếu xót nghiêm trọng nhưng vẫn tuyên án thì dễ dàng dẫn đến oan sai", luật sư Tùng nêu ý kiến.
