Kinh tế
30/10/2021 15:00Thép, xi măng lại tiếp tục tăng giá
Nhiều doanh nghiệp sản xuất thép, xi măng thông báo điều chỉnh tăng giá ngay trong tháng 10.
Từ đầu tháng 10 đến nay, nhiều doanh nghiệp thép đã điều chỉnh mức tăng giá bán khoảng 17.000 -192.000 đồng/kg tùy từng thương hiệu… Cụ thể, giá thép cuộn CB240 của Tập đoàn Hòa Phát tại miền Bắc tăng 460 đồng/kg, hiện ở mức 16.770 đồng/kg. Thép cây D10 CB300 tăng 410 đồng/kg, lên mức 16.820 đồng/kg.
Với thương hiệu thép Thái Nguyên tại miền Bắc, thép CB240 tăng 860 đồng/kg, lên mức 17.200 đồng/kg, thép D10CB300 tăng 260 đồng, lên mức 17.260 đồng/kg.
Thép cuộn CB240 thương hiệu Việt Đức tại miền Bắc cũng tăng thêm 250 đồng/kg, lên 16.950 đồng/kg; thép D10 CB300 tăng 200 đồng/kg, lên 17.200 đồng/kg.
Với mặt hàng xi măng, các doanh nghiệp cũng thông báo điều chỉnh giá các sản phẩm đồng loạt tăng 5 - 7% tùy từng khu vực và chủng loại.
Điển hình, Công ty Cổ phần Ximăng Hoàng Long điều chỉnh tăng giá bán các loại ximăng bao PCB30, PCB40 từ ngày 20/10 thêm 80.000 đồng/tấn trên giá hiện đang áp dụng.
Công ty Cổ phần Ximăng Vicem Bút Sơn điều chỉnh tăng 80.000 đồng/tấn so với thời điểm hiện tại (đã bao gồm VAT) đối với tất cả các chủng loại ximăng (bao và rời).
Công ty Ximăng Long Sơn cũng áp dụng điều chỉnh tăng 90.000 đồng/tấn so với đơn giá đang áp dụng đối với sản phẩm Ximăng bao Hà Trung (PCB30, PCB40). Nhiều loại Ximăng Duyên Hà, Ximăng Nghi Sơn hay Ximăng Vicem Hoàng Mai cũng đều thông báo tăng giá.
Giá cát xây dựng có xu hướng tăng nhẹ trong quý IV
Theo Báo cáo Nghiên cứu thị trường vật liệu xây dựng quý III và dự báo quý IV/2021 của Viện Kinh tế Xây dựng, do các địa phương tại khu vực Bắc Trung Bộ, Duyên Hải miền Trung, Tây Nguyên, Đông Nam Bộ và Đồng bằng sông Cửu Long phải thực hiện giãn cách từ tháng 5/2021 đã khiến cho giá cát xây dựng trong quý III giảm từ 6-20% so với quý II/2021.

Tuy nhiên, ngành chức năng đánh giá, giá cát xây dựng tại cả 6 khu vực thị trường trên cả nước thời gian qua cơ bản vẫn ổn định, không có sự tăng giá bất thường. Giá cát xây dựng các khu vực biến động do các địa phương thực hiện phòng chống dịch theo Chỉ thị 15/CT-TTg và Chỉ thị 16/CT-TTg của Chính phủ.
Cụ thể, trên thị trường, giá các loại cát đắp, cát xây, cát vàng tại thị trường Trung du và miền núi phía lần lượt là 167.795 đồng, 267.232 đồng và 306.222 đồng/m3. Tương ứng, giá tại khu vực Đồng bằng sông Hồng là cát đắp 127.209 đồng/m3, cát xây 181.136 đồng/m3 và cát vàng 426.448 đồng/m3.
Các mức giá này tại khu vực Bắc Trung Bộ và Duyên hải miền Trung tương ứng là: cát đắp 90.255 đồng/m3, cát xây 262.042 đồng/m3 và cát vàng 329.892 đồng/m3. Khu vực Tây Nguyên, cả 3 loại cát đều có giá cao nhất trong các khu vực khác, tương ứng lần lượt theo mức: cát đắp 289.497 đồng/m3, cát xây 399.241 đồng/m3 và cát vàng 471.274 đồng/m3.
Mức giá cát trên thị trường tại khu vực Đông Nam Bộ lần lượt là cát đắp 129.129 đồng/m3, cát xây 354.750 đồng/m3 và cát vàng 427.425 đồng/m3. Khu vực Đồng bằng sông Cửu Long là cát đắp 156.742 đồng/m3, cát xây 375.381 đồng/m3 và cát vàng 506.365 đồng/m3.