Trung Quốc sẽ còn 'quá đà' nhiều hơn nữa trong tương lai

Theo Phan Tom / Sức Khỏe Cộng Đồng 06:37 22/07/2019

Sự việc ở Bãi Tư Chính cho thấy một điều, việc gây sự của Trung Quốc thường xuyên lặp đi lặp lại kể từ sau vụ HD 981 và khi nước này phủ nhận phán quyết của tòa trọng tài quốc tế năm 2016.

bo-ngoai-giao-xac-nhan-tau-trung-quoc-hai-duong-08-da-xam-pham-them-luc-dia-viet-nam
Tàu Hải Dương địa chất 8 khi ở đất liền.

Trong khi nhóm tàu Hải Dương địa chất 8 (Haiyang Dizhi 8) của Trung Quốc xâm nhập và hoạt động suốt hai tuần qua trong vùng biển đặc quyền kinh tế và thềm lục địa phía Nam của Việt Nam quanh bãi Tư Chính, thì ngày 17/7/2019, người phát ngôn Bộ Ngoại giao Trung Quốc Cảnh Sảng lại nói rằng, Chính phủ Việt Nam nên tôn trọng chủ quyền của Trung Quốc đối với một số khu vực trên biển Đông và phía Việt Nam cũng nên kiềm chế hành động sẽ làm trầm trọng thêm tình hình trong khu vực.

Ngày 19/7, trả lời câu hỏi của phóng viên đề nghị bình luận về phát biểu của ông Cảnh Sảng, người phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Nam Lê Thị Thu Hằng nêu rõ, đây là vùng biển hoàn toàn của Việt Nam, được xác định theo đúng các quy định của Công ước của Liên hiệp quốc về Luật Biển 1982 mà Việt Nam và Trung Quốc đều là thành viên. Việt Nam đã tiếp xúc nhiều lần với phía Trung Quốc ở các kênh khác nhau, trao công hàm phản đối, kiên quyết yêu cầu chấm dứt ngay các hành vi vi phạm, rút toàn bộ tàu ra khỏi vùng biển Việt Nam; tôn trọng quyền chủ quyền, quyền tài phán của Việt Nam vì quan hệ hai nước và ổn định, hòa bình ở khu vực.

Nhắc lại phán quyết trọng tài 2016 cho Trung Quốc nhớ

Rõ ràng, hành động đưa Hải Dương địa chất 8 vào vùng biển đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam cho thấy, Trung Quốc chưa bao giờ có ý định ngừng "gây sự" ở Biển Đông trong suốt nhiều năm qua, bất chấp vào năm 2016, Tòa Trọng tài thường trực đã nêu rõ hai điểm. Một là Trung Quốc không có cơ sở pháp lý để yêu sách quyền lịch sử đối với tài nguyên tại các vùng biển phía bên trong đường chín đoạn; Hai là không một cấu trúc nào tại Trường Sa có khả năng tạo ra các vùng biển mở rộng và các đảo Trường Sa không thể cùng nhau tạo ra các vùng biển như một thực thể thống nhất.

Trước hết, mặc dù Trung Quốc không tham gia vụ kiện và tuyên bố không chấp nhận phán quyết, nhưng văn bản pháp lý này vẫn nguyên giá trị của nó. Phán quyết khẳng định rằng, đường lưỡi bò là không có cơ sở pháp lý, nghĩa là nó không có giá trị gì để Trung Quốc đòi quyền khai thác tài nguyên trong đường lưỡi bò.

Do đó, Trung Quốc không có vùng biển hợp pháp nào tranh chấp với Việt Nam tại khu vực DK1, trong đó có bãi Tư Chính. Tòa Trọng tài quốc tế kết luận rằng, không có căn cứ pháp lý nào để Trung Quốc yêu sách các quyền lịch sử đối với tài nguyên, bên ngoài những quyền quy định trong Công ước, tại các vùng biển nằm bên trong “đường chín đoạn”.

Cũng trong phán quyết ngày 12/7 năm 2016, Tòa Trọng tài đã xem xét quy chế của các cấu trúc tại biển Đông và các quyền đối với vùng biển mà Trung Quốc có thể đòi hỏi theo Công ước. Tòa Trọng tài nhất trí rằng bãi Scarborough, Gạc Ma, Châu Viên và Chữ Thập là các cấu trúc nổi, chỉ có vùng biển phụ cận không quá 12 hải lý; và Xu Bi, Huy Gơ, Vành Khăn và Cỏ Mây là cấu trúc chìm trong điều kiện tự nhiên, nên không có vùng biển phụ cận 12 hải lý.

Tòa Trọng tài tiếp theo đã xem xét liệu có cấu trúc nào mà Trung Quốc yêu sách có thể tạo ra các vùng biển ngoài 12 hải lý hay không. Tòa Trọng tài giải thích Điều 121 và kết luận rằng các quyền có vùng biển của một cấu trúc phụ thuộc vào (a) năng lực khách quan của cấu trúc; (b) trong điều kiện tự nhiên, nó có thể duy trì hoặc (c) một cộng đồng dân cư ổn định hoặc (d) hoạt động kinh tế mà không phụ thuộc vào tài nguyên bên ngoài và cũng không thuần túy mang tính chất khai thác.

Qua đánh giá hồ sơ lịch sử, Tòa Trọng tài thấy rằng các đảo Trường Sa trong lịch sử từng được các nhóm nhỏ ngư dân từ Trung Quốc và các nước khác sử dụng, và một số công ty khai thác phân chim và đánh cá của Nhật đã có hoạt động tại đây vào những năm 1920 và 1930. Tòa Trọng tài kết luận rằng việc sử dụng tạm thời các cấu trúc của ngư dân không dẫn đến việc cư ngụ của một cộng đồng ổn định và tất cả các hoạt động kinh tế trong lịch sử đều chỉ có tính chất khai thác.

Theo đó, Tòa Trọng tài kết luận rằng tất cả các cấu trúc nổi tại Trường Sa đều là “đảo đá” về mặt pháp lý và không tạo ra vùng đặc quyền kinh tế hoặc thềm lục địa, mà chỉ có vùng biển phụ cận là 12 hải lý. Tòa Trọng tài cũng kết luận rằng, Công ước không quy định việc một nhóm các đảo như quần đảo Trường Sa sẽ có các vùng biển với tư cách là một thực thể thống nhất, do đó, không một nước nào có thể vẽ đường cơ sở xung quanh các đảo ở Trường Sa để yêu sách vùng biển phụ cận xung quanh quần đảo Trường Sa.

Như vậy, có thể khẳng định dứt khoát rằng, Trung Quốc không hề có vùng biển hợp pháp nào có thể chồng lấn hay tranh chấp với vùng biển đặc quyền kinh tế và thềm lục địa phía Nam của Việt Nam, trong đó có bãi Tư Chính.

Trung Quốc sẽ còn "quá đà" nhiều hơn nữa trong tương lai

su-vi-pham-chu-quyen-viet-nam-cua-trung-quoc-da-duoc-nhin-thay-tu-lau
Hành động của Trung Quốc ở biển Đông đang làm xấu hình ảnh của nước này và làm mất lòng tin của các nước trong và ngoài khu vực. Ảnh: AP

Có thể thấy mục tiêu lâu dài của Trung Quốc là độc chiếm Biển Đông, tức là chiếm toàn bộ các đảo trong vùng biển này (bao gồm 4 quần đảo Tây Sa, Nam Sa, Đông Sa, Trung Sa theo cách gọi của Trung Quốc). 

Trung Quốc cũng muốn chiếm chủ quyền với khoảng 80% diện tích Biển Đông và toàn bộ tài nguyên trong khu vực biển này. Bên cạnh đó là quyền kiểm soát với vùng trời, vùng biển và đáy biển. Điều này mang đến thách thức nghiêm trọng đối với chủ quyền của Việt Nam tại Biển Đông. 

Trong 6 thập kỷ qua, có thể thấy rõ các biện pháp và kế sách mà Trung Quốc đã áp dụng để triển khai mục tiêu này. Nước này đã dùng đến mọi biện pháp, từ kinh tế, chính trị, ngoại giao cho đến tâm lý và cả thông tin tuyên truyền. 

Người Trung Quốc ngày nay học tập nhiều từ binh pháp Tôn Tử, nhưng cũng có rất nhiều cải tiến đối với loại binh pháp này. Người Trung Quốc biến các loại mưu kế trở thành một bộ môn khoa học và đưa vào các nội hàm mới cho những mưu kế này. 

Các ví dụ có thể kể đến là kế sách “tằm ăn dâu”, “biến không thành có”, “gác tranh chấp cùng khai thác”, “cây gậy và củ cà rốt”,... 

Trong đó, một trong những kế sách thâm độc nhất của Trung Quốc là chiến thuật “vùng xám”, tức dân sự hoá các hoạt động quân sự và bán quân sự, không sử dụng hải quân cũng như các hoạt động có cường độ quá mạnh hay vượt qua một giới hạn đỏ nào đó. Mục đích của điều này là không để tạo ra những phản ứng quá quyết liệt từ các nước khác. 

Hoạt động kéo dài của nhóm tàu Trung Quốc trong vùng biển Việt Nam những ngày qua nhằm mục đích tạo ra nguyên trạng mới, đó là sự tranh chấp ngay trong vùng biển hợp pháp của Việt Nam, đe dọa hòa bình, an ninh và ổn định trên vùng biển Việt Nam. Đây là bước leo thang mới nguy hiểm của Trung Quốc, gây sức ép để Việt Nam phải chấp nhận phương án khai thác chung của Trung Quốc. Đây là cái bẫy chủ quyền, biến vùng biển hợp pháp của nước khác thành vùng biển tranh chấp, rồi từ đó chiếm đoạt vùng biển của nước khác.

Nguyên Đại sứ Việt Nam tại Brunei, Viện trưởng Viện Biển Đông, Học viện Ngoại giao Nguyễn Trường Giang tại một buổi chia sẻ về sách lược người Việt Nam cần thực hiện để bảo vệ chủ quyền Biển Đông ở CLB Cafe Số gần đây đã có những dự đoán về hành động tương lai của Trung Quốc sau những bước nguy hiểm ở Bãi Tư Chính. 

Ông cho biết, trong bức tranh về thực trạng ở Biển Đông, chúng ta có thể dựa vào những gì đã xảy ra trong quá khứ để nhìn nhận và dự đoán tương lai. 

Về trung hạn, Trung Quốc có thể sẽ tiếp tục đưa dàn khoan vào thềm lục địa Việt Nam. Khả năng thứ 2 là Trung Quốc sẽ tạo ra một vùng nhận diện phòng không trên Biển Đông. Trung Quốc cũng có thể sẽ tiến hành chiếm giữ một số bãi đá ngầm mà chưa có quốc gia nào chiếm đóng. 

Dù rất hãn hữu, thế nhưng không loại trừ khả năng Trung Quốc sẽ đánh chiếm Trường Sa. Tuy nhiên điều này chỉ có thể xảy ra nếu họ có một thời cơ thích hợp. Người Trung Quốc thường chỉ hành động khi có thiên thời, địa lợi, nhân hòa và tính toán được rất kỹ cái giá phải trả. Đây chính là điểm để Việt Nam hoạch định các kế sách đối phó. 

Nếu Việt Nam có thể làm cho Trung Quốc không có được thiên thời, địa lợi, nhân hòa hoặc trong trường hợp có chiến tranh, nước này sẽ phải trả một cái giá rất đắt thì họ sẽ không dám đánh chiếm Trường Sa nữa. 

Trong 2 năm tới trước Đại hội, việc quân sự hoá Biển Đông sẽ được Trung Quốc thực hiện ráo riết hơn. Trung Quốc có thể đưa những lực lượng quân sự đông hơn ra chiếm đóng tại Trường Sa. Nước này cũng có thể vẽ ra lãnh hải của những hòn đảo mà hiện tại họ đang chiếm đóng, cũng như vùng nội thuỷ của các đảo này. Đây là những cảnh báo mà chúng ta cần phải lưu ý. 

Trung Quốc sẽ sớm thông qua Luật An toàn giao thông hàng hải sửa đổi. Từ dự thảo của bộ luật này, có thể thấy Trung Quốc có khả năng dựa vào đây để lập các vùng an toàn hàng hải trên biển. Điều gì sẽ xảy ra nếu vùng an toàn bao chùm lên các nhà giàn DK1 của Việt Nam. Bên cạnh đó,  tàu thuyền sẽ phải xin phép khi tiến vào vùng biển Trường Sa. Điều này cũng có nghĩa là các đảo của Việt Nam sẽ bị phong toả. 

Năm 2016, 2017, trên các phương tiện thông tin đại chúng của Trung Quốc đưa ra một dự báo cho thấy, Trung Quốc có thể đưa những nhà máy điện hạt nhân nổi ra Biển Đông. 

Nếu như các nhà máy điện hạt nhân nổi được triển khai tại Biển Đông, nó sẽ mang lại rất nhiều thách thức về chủ quyền, môi trường, kinh tế, tài nguyên và  đối với mạng sống của hàng trăm triệu người…

Đánh giá về tình hình hiện nay, ông Nguyễn Trường Giang nhận định, có thể thấy vấn đề Biển Đông đang ngày càng phức tạp và diễn biến khó lường. Chủ quyền biển đảo Việt Nam đang bị thách thức nghiêm trọng và thách thức này sẽ còn nghiêm trọng hơn nữa trong tương lai. 

 

Mỹ lên tiếng trước 'sự áp bức của Trung Quốc ở Biển Đông'

Trong thông cáo có tiêu đề "Sự áp bức của Trung Quốc với hoạt động dầu khí trên Biển Đông", Bộ Ngoại giao Mỹ ngày 20/7 cho biết Washington quan ngại trước những báo cáo về việc Bắc Kinh có hành vi can thiệp hoạt động khai thác dầu khí trong khu vực, bao gồm hoạt động thăm dò và khai thác lâu nay của Việt Nam.

 

Ông Duterte có thực sự mời Mỹ đối phó Trung Quốc ở Biển Đông?

Gần đây Tổng thống Philippines Duterte liên tục thách Mỹ đưa quân đối phó Trung Quốc ở Biển Đông. Thế nhưng, có phải ông chỉ nói vậy để xoa dịu những cáo buộc đang quá mềm mỏng với Bắc Kinh, tờ Foreign Policy của Mỹ ngày 18/7 đặt câu hỏi.

 

Tin khác