Kinh tế
03/08/2026 13:47Đề xuất cơ chế đặc thù, giải pháp kỹ thuật cho dự án Vành đai 5 - Vùng Thủ đô Hà Nội
Dự án đầu tư xây dựng đường Vành đai 5 - Vùng Thủ đô Hà Nội là dự án quan trọng quốc gia, được cụ thể hóa từ các định hướng lớn của Đảng tại Nghị quyết Đại hội XIV, Kết luận số 18-KL/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng, các Nghị quyết của Bộ Chính trị và Nghị quyết của Quốc hội. Tuyến đường có tổng chiều dài khoảng 349 km (bao gồm 57 km đi trùng cao tốc Bắc - Nam phía Tây và 11 km đi trùng cao tốc Nội Bài - Hải Phòng), đi qua địa bàn 7 tỉnh, thành phố: Hà Nội, Ninh Bình, Hưng Yên, Hải Phòng, Bắc Ninh, Thái Nguyên và Phú Thọ.

Theo Tờ trình của Chính phủ, Dự án được quy hoạch với 02 thành phần chính: Tuyến chính cao tốc 6 làn xe (tốc độ thiết kế 100 - 120 km/h) và đường song hành quy mô tối thiểu đường cấp III hoặc đường đô thị 2 làn xe. Tổng mức đầu tư sơ bộ của toàn tuyến ước tính khoảng 288.268 tỷ đồng.
Theo đánh giá của các đại biểu việc hoàn thiện khép kín tuyến Vành đai 5 không chỉ giảm tải giao thông nội đô cho Hà Nội mà còn tạo ra hành lang kinh tế liên kết các cực tăng trưởng phía Bắc, phát huy tiềm năng quỹ đất và phục vụ đắc lực cho mục tiêu tăng trưởng kinh tế "2 con số" trong giai đoạn 2026 - 2030.
Tại Phiên họp toàn thể lần thứ 3 của Ủy ban Kinh tế và Tài chính Quốc hội chiều ngày 31/7, các đại biểu Quốc hội đã thảo luận, cho ý kiến về Dự thảo Nghị quyết về chủ trương đầu tư Dự án đầu tư xây dựng đường Vành đai 5 - Vùng Thủ đô Hà Nội. Nhiều ý kiến tập trung vào việc rà soát quy mô, cơ chế phân kỳ đầu tư, bài toán phân bổ nguồn vốn giữa Trung ương và địa phương, tính khả thi của các cơ chế đặc thù, cùng các giải pháp kỹ thuật nhằm tránh tình trạng chia cắt cộng đồng dân cư.
Thảo luận vào các cơ chế đặc thù và giải pháp kỹ thuật, các đại biểu đã đóng góp nhiều ý kiến sát thực tế. Về phân chia nguồn thu từ đất hai bên tuyến đường, cho ý kiến về chính sách giữ lại một phần tỷ lệ tiền thu từ khai thác quỹ đất đô thị, khu chức năng hai bên đường Vành đai 5, một số đại biểu đề nghị cần cụ thể hóa tỷ lệ phân chia (ví dụ 50% nộp Ngân sách trung ương (NSTW), 50% giữ lại ngân sách địa phương (NSĐP) và quy định rõ mục đích sử dụng nguồn vốn giữ lại để phát triển, cải tạo hạ tầng giao thông, đô thị theo đúng tinh thần Nghị quyết của Trung ương.
Về bãi đổ thải vật liệu xây dựng và hỗ trợ doanh nghiệp bị giải tỏa, một số ý kiến kiến nghị cần có cơ chế mở hơn về bãi đổ thải. Thay vì bắt buộc thu hồi đất bãi thải theo quy hoạch cố định (thường xa tuyến đường, tốn chi phí vận chuyển), nên cho phép địa phương linh hoạt trưng dụng tạm thời các khu đất gần công trình để làm bãi thải, sau khi hoàn thành sẽ hoàn trả mặt bằng. Đối với các doanh nghiệp sản xuất bị thu hồi đất, bên cạnh việc bố trí đất tái định cư, đại biểu đề xuất chính sách ưu tiên đưa doanh nghiệp vào thuê đất, hạ tầng tại các khu, cụm công nghiệp đã có mặt bằng sạch và hỗ trợ chi phí giải tỏa nằm trong dự án GPMB.
Về tiêu chuẩn kỹ thuật, thiết kế hầm chui dân sinh và bảo tồn dòng chảy, các đại biểu lưu ý về tốc độ thiết kế và giải pháp chống chia cắt cộng đồng. Dự án quy hoạch 95 cầu lớn, nhưng số lượng hầm chui dân sinh chưa được số liệu hóa cụ thể.
Đại biểu đề nghị khảo sát kỹ lưỡng hệ thống hầm chui và cầu vượt để tránh biến tuyến đường thành "con đê" ngăn cách địa bàn, gây ngập úng mùa mưa lũ hoặc bắt người dân đi vòng nhiều cây số. Về tốc độ, đối với các đoạn xa trung tâm có thể thiết kế 100 - 120 km/h, nhưng các đoạn đi qua khu vực dân cư đông đúc nên cân nhắc hạ tốc độ thiết kế xuống 80 - 90 km/h để giảm chi phí đầu tư.
Về phương thức đầu tư, có ý kiến gợi mở, đối với tuyến chính cao tốc 6 làn, bên cạnh đầu tư công, những đoạn qua các tỉnh có điều kiện kinh tế tốt nên xem xét áp dụng hình thức BOT để giảm tải ngân sách.

Giải trình các vấn đề đại biểu nêu, Thứ trưởng Bộ Xây dựng Lê Anh Tuấn cho biết, hồ sơ Báo cáo nghiên cứu tiền khả thi đã được xây dựng hết sức khẩn trương theo chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ và thông báo của Văn phòng Trung ương.
Về quy mô và tốc độ thiết kế, Thứ trưởng giải thích, đường Vành đai 5 là tuyến cao tốc liên vùng nên phải quy hoạch đồng bộ 6 làn xe hoàn chỉnh, tốc độ thiết kế từ 100 - 120 km/h theo QCVN 117:2024/BGTVT để tránh lặp lại bất cập phân kỳ 2-4 làn hạn chế như một số tuyến trước đây.
Đối với phương án tài chính và hình thức đầu tư, Thứ trưởng Lê Anh Tuấn làm rõ, vốn NSTW hiện Bộ Tài chính mới cân đối bước đầu được 59.700 tỷ đồng cho giai đoạn 2026 - 2030. Về khả năng đầu tư PPP, Bộ Xây dựng đã phân tích rất kỹ phương thức PPP (mô hình BOT), tuy nhiên, nếu áp dụng quy định hiện hành (vốn nhà nước hỗ trợ tối đa 50%) thì phương án tài chính BOT không khả thi. Để khả thi, vốn nhà nước phải hỗ trợ tới khoảng 79 - 80%, làm mất đi ý nghĩa của "vốn mồi" tư nhân.
Bên cạnh đó, việc huy động vốn tín dụng ngân hàng dài hạn cho các dự án BOT hiện gặp rất nhiều khó khăn. Do đó, Chính phủ kiến nghị lựa chọn hình thức đầu tư công, sau khi hoàn thành sẽ tổ chức thu phí để hoàn trả ngân sách nhà nước. Trong bước lập Báo cáo nghiên cứu khả thi, Bộ sẽ tiếp tục rà soát, đoạn nào có khả năng thu hút PPP sẽ ưu tiên tách ra triển khai.
Thứ trưởng Bộ Xây dựng nhấn mạnh, Bộ ghi nhận ý kiến của đại biểu địa phương để phối hợp với Bộ Tài chính rà soát lại phương án phân bổ, cân đối nguồn vốn.