Chiến thắng Điện Biên Phủ mang ý nghĩa lịch sử to lớn đối với công cuộc bảo vệ tổ quốc.
Lá cờ quyết chiến quyết thắng của Chủ tịch Hồ Chí Minh tặng các đơn vị tham gia Chiến dịch Điện Biên Phủ được cắm trên hầm chỉ huy của địch. (Ảnh: hochiminh.vn)

Lá cờ quyết chiến quyết thắng của Chủ tịch Hồ Chí Minh tặng các đơn vị tham gia Chiến dịch Điện Biên Phủ được cắm trên hầm chỉ huy của địch. (Ảnh: hochiminh.vn)

Lịch sử chiến thắng Điện Biên Phủ

Ngày 20/11/1953, thực dân Pháp cho quân nhảy dù xuống Điện Biên Phủ và dựng một tập đoàn cứ điểm mạnh nhất Đông Dương ở đây.

Lực lượng này gồm 17 tiểu đoàn bộ binh, 3 tiểu đoàn pháo binh, 1 tiểu đoàn công binh, 1 đại đội xe tăng, 1 đại đội xe vận tải có khoảng 200 chiếc và phi đội không quân thường trực có 14 chiếc. Tổng số binh lực là 16.200 tên.

Tập đoàn cứ điểm gồm 40 cứ điểm, chia thành 8 cụm, mỗi cụm cứ điểm là một hệ thống hoả lực nhiều tầng. 8 cụm cứ điểm họp thành ba phân khu bao gồm 80% lực lượng không quân ở Đông Dương và nhiều loại vũ khí hiện đại khác của Pháp và Mỹ đã được đưa tới đây.

Các tướng tá Pháp và Mỹ gọi đây là "tập đoàn cứ điểm đáng sợ", "pháo đài bất khả xâm phạm". Âm mưu của kẻ địch là thu hút chủ lực ta lên đó để tiêu diệt, rồi chuyển sang tiến công.

Trước tình hình nguy cấp đó, Bộ Chính trị Trung ương Đảng đã tiến hành chuẩn bị chiến dịch tiêu diệt toàn bộ quân địch ở tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ từ cuối năm 1953.

Hội đồng cung cấp Mặt trận Trung ương do Phó Thủ tướng Phạm Văn Đồng làm Chủ tịch và Hội đồng cung cấp Mặt trận các cấp đã được chính phủ thành lập.

Trung ương Đảng cũng quyết định thành lập Đảng uỷ và Bộ chỉ huy mặt trận Điện Biên Phủ do đồng chí Võ Nguyên Giáp, Uỷ viên Bộ Chính trị Trung ương Đảng, trực tiếp làm Bí thư Đảng uỷ và Chỉ huy trưởng mặt trận.

Nhân dân ta đã dồn sức người, sức của, quyết tâm giành chiến thắng với khẩu hiệu "Tất cả cho mặt trận, tất cả để chiến thắng”.

Tới đầu tháng 3-1954, công tác chuẩn bị của ta đã hoàn thành.

Ngày 13/3/1954, quân ta nổ súng mở đợt tiến công thứ nhất vào tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ.

Sau 5 ngày chiến đấu, ta đã tiêu diệt nhanh gọn hai cứ điểm kiên cố bậc nhất của địch ở đây là Him Lam và Độc Lập. Tiếp đó, ta tiêu diệt thêm tiểu đoàn địch và hạ gục cứ điểm Bản Kéo.

2.000 tên địch bị tiêu diệt hoặc bắn sống. 12 máy bay của địch bị bắn rơi. Quân ta mở thông cửa vào trung tâm tập đoàn cứ điểm, uy hiếp sân bay Mường Thanh.

Trong đợt tiến công mở đầu này, Phan Đình Giót đã nêu gương chiến đấu dũng cảm, lấy thân mình lấp lỗ châu mai tạo điều kiện cho toàn đơn vị tiến lên tiêu diệt địch.

Ngày 16/3/1954, 3 tiểu đoàn nhảy dù của địch đã xuống viện trợ cho tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ.

Ngày 30/3/1954, ta mở đợt tiến công thứ hai. Theo đó các ngọn đồi phía đông của phân khu trung tâm đều bị nhắm mục tiêu. Ta hạ 2.500 tên địch, chiếm phần lớn các điểm cao quan trọng ở phía Đông, củng cố từ trên đánh xuống, tạo thêm điều kiện chia cắt, bao vây, khống chế địch, chuyển sang tổng công kích tiêu diệt địch.

Trong khi đó, thực dân Pháp đã tập trung hầu hết máy bay chiến đấu, máy bay vận tải ở Đông Dương tới đây. Không chỉ vậy, đế quốc Mỹ còn tăng viện cho Pháp với 100 máy bay oanh tạc chiến đấu, 50 máy bay vận tải và cho Pháp mượn 29 máy bay C119 có cả người lái; lập cầu hàng không chở dù từ Nhật và Mỹ sang mật trận Điện Biên Phủ.

Đế quốc Mỹ còn đưa 2 tàu sân bay vào vịnh Bắc Bộ diễn tập "đổ bộ ào ạt vào Đông Dương".

Trong khi đó, quân ta cũng liên tục củng cố lực lượng, chiến đấu ngoan cường.

Ngày 1/5/1954, ta mở đợt tiến công thứ ba, lần lượt đánh chiếm những cứ điểm còn lại ở phía Đông và phía Tây. Đẩy lùi nhiều cuộc phản kích của địch.

Ngày 4/5/1954, địch tiếp tục tăng thêm quân bằng hình thức nhảy dù xuống Điện Biên Phủ.

Ngày 7/5/1954, quân ta chiến thắng, tiến thẳng vào sở chỉ huy địch. Tướng De Castries và toàn bộ tham mưu tập đoàn cứ điểm bị bắt sống. Sau 55 ngày đêm chiến đấu vô cùng anh dũng, chiến dịch lịch sử Điện Biên Phủ đã toàn thắng.

16.200 tên địch bị tiêu diệt hoặc bị bắt sống. Ở phía ta, 4.200 đồng chí đã hy sinh. 792 đồng chí mất tichs và 9.118 đồng chí bị thương.

Ta thu được 28 khẩu pháo, 5.915 khẩu súng lớn nhỏ, 3 xe tăng, 64 ô tô, 43 tấn dụng cụ thông tin, 20 tấn thuốc quân y, 40 tấn đồ hộp, 40.000 lít xăng dầu, bắn rơi 62 máy bay các loại.

Ý nghĩa lịch sử của chiến thắng Điện Biên Phủ

Điện Biên Phủ là một thung lũng lòng chảo rộng lớn ở phía Tây vùng rừng núi Tây Bắc, gần biên giới Lào - Việt. Nơi đây nằm trên ngã ba nhiều đường lớn và đường nhỏ quan trọng.

Đối với đế quốc Pháp - Mỹ, Điện Biên Phủ có vị thế chiến lược hết sức quan trọng. Đây là một vị trí chiến lược cơ động ở giữa miền Bắc Việt Nam, Thượng Lào và miền Tây Nam Trung Quốc, có thể trở thành một căn cứ lục quân và không quân rất lợi hại trong âm mưu xâm lược của chúng ở vùng Đông Nam châu Á.

Chủ tịch Hồ Chí Minh từng nói: "Chiến dịch này là một chiến dịch quan trọng không những về quân sự mà cả về chính trị, không những đối với trong nước mà đối với quốc tế. Vì vậy toàn quân, toàn dân, toàn Đảng phải tập trung hoàn thành cho kỳ được".

Chiến thắng Điện Biên Phủ là chiến thắng của một chiến dịch tiến công hiệp đồng binh chủng quy mô lớn nhất của quân đội ta trong kháng chiến chống thực dân Pháp.

Chiến thắng này góp phần đánh bại kế hoạch Nava của thực dân Pháp và sự can thiệp của Mỹ. Đây cũng được cho là dấu son có ý nghĩa quyết định đối với thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Pháp của Việt Nam.

Cuộc chiến đấu toàn thắng ở Điện Biên Phủ cũng là kết thúc thắng lợi của 9 năm kháng chiến trường kỳ, anh dũng của nhân dân ta.

Với chiến thắng Điện Biên Phủ, Việt Nam có thêm một mốc son chói lọi, trở thành biểu tượng của chủ nghĩa anh hùng và sức mạnh đoàn kết dân tộc.

Đối với cộng đồng quốc tế, Chiến thắng Điện Biên Phủ là trận Vanmy của các dân tộc da màu trên thế giới.

Bài liên quan