Thời sự
21/07/2026 12:25Chuyện xả lũ ở Thủy điện Hòa Bình
Giữa tháng 7, cái nắng oi ả của đồng bằng Bắc Bộ dịu dần khi đến Hòa Bình. Từ cầu Hòa Bình, có thể nghe tiếng nước sông Đà dồn dập chảy qua cửa xả đáy; hơi nước mát lạnh phả lên mặt.
Theo báo cáo của Công ty Thủy điện Hòa Bình, đợt xả lũ đầu tiên năm 2026 bắt đầu lúc 11h ngày 11/7, khi nhà máy mở 1 cửa xả đáy theo Công điện số 7561/CĐ-BNNMT của Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường. Việc xả nước nhằm điều tiết hồ chứa theo Quy trình vận hành liên hồ trên lưu vực sông Hồng. Trước đó, lúc 13h ngày 10/7/2026, mực nước thượng lưu hồ ở cao trình 104 m, mực nước hạ lưu 12,1 m và lưu lượng nước về hồ đạt 4.377 m³/s. Đến 23h ngày 12/7/2026, hồ xả 1.557 m³/s qua đập tràn và 2.953 m³/s qua nhà máy, vẫn duy trì 1 cửa xả lũ. Hồ có tổng dung tích 9,45 tỷ m³, diện tích 208 km² và kéo dài 230 km từ Hòa Bình đến Sơn La.

“Sông Đà bất trị” và khát vọng điện khí hóa
Để có nhà máy với 8 tổ máy, tổng công suất lắp máy 1.920 MW và sản lượng điện bình quân 8,6 tỷ kWh mỗi năm như hôm nay, các thế hệ cán bộ, công nhân Việt Nam cùng chuyên gia Liên Xô đã phải giải bài toán địa chất từng khiến sông Đà bị gọi là “bất trị”.
Theo Anh hùng Lao động, nguyên Bộ trưởng Bộ Năng lượng, nguyên Thứ trưởng Bộ Công nghiệp Thái Phụng Nê, từ năm 1940, người Pháp đã khoan thăm dò tại tuyến Hòa Bình. Khi gặp lớp cát, cuội, sỏi dưới lòng sông, công nghệ khi đó chưa đủ khả năng xử lý. Các mũi khoan được chuyển đến Chợ Bờ, suối Rút nhưng vẫn gặp lớp địa chất này. Cuối cùng, người Pháp rời đi và để lại nhận định: “Sông Đà bất trị”.
Khát vọng khai thác dòng sông không dừng lại ở đó. Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III năm 1960, Đảng xác định điện khí hóa cần đi trước một bước trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội. Trên cơ sở kinh nghiệm của Liên Xô, Chính phủ giao Bộ Thủy lợi khảo sát, nghiên cứu địa chất toàn bộ lưu vực sông Đà. Dịp Quốc khánh 2/9/1971, máy khoan của Liên Xô đặt mũi khoan đầu tiên tại hố khoan số 1 ở lòng sông, khu vực tuyến đập.
Đến tháng 9/1971, các chuyên gia Việt Nam và Liên Xô lại gặp lớp cát, cuội, sỏi nói trên. Sáu tuyến được đề xuất gồm Suối Rút, suối Hoa, Chợ Bờ (Đà Bắc), Hiền Lương, Hòa Bình trên và Hòa Bình dưới. Cả sáu đều có lớp cát, cuội, sỏi, nhưng chỉ hai tuyến được lập dự án thiết kế chi tiết. Cuộc tranh luận kéo dài nhiều năm giữa Viện Thiết kế Thủy công Ba Cu (Cộng hòa Azerbaijan), chọn tuyến Hòa Bình trên, và Viện Thiết kế Thủy công Matxcơva, chọn tuyến Hòa Bình dưới. Năm 1978, tuyến Hòa Bình dưới với mực nước dâng 115 m được lựa chọn.
Đúng 10 giờ ngày 6/11/1979, đồng chí Lê Thanh Nghị, Ủy viên Bộ Chính trị, Phó Thủ tướng Chính phủ, phát lệnh nổ mìn, chính thức khởi công xây dựng công trình.
Công trường và bức thư gửi thế hệ năm 2100
Mười lăm năm thi công là chặng đường nhiều gian khó. Công trường có hơn 30.000 cán bộ, công nhân; 5.000 chiến sĩ công binh, 1.000 cán bộ quản lý và 750 chuyên gia Liên Xô. Trong điều kiện đất nước còn thiếu điện, thiếu nước, nhiều thanh niên làm việc 3 ca, 4 kíp. Khẩu hiệu “Cao độ 81 hay là chết” gắn với giai đoạn nước rút của công trường. Các đơn vị đã đào hơn 20 nghìn m³, đắp gần 27 nghìn m³ đất đá, khoan phun 205.000 m, lắp đặt gần 47.000 tấn thiết bị và kết cấu kim loại. Công tác thi công có sự tham gia của Tổng chuyên viên Xô Viết Pavel Timofeevich Bogachenko và Phó tổng chuyên viên Godunov Boric Ivanovich.
Tìm hiểu về đập Thủy điện Hòa Bình, điều gây chú ý là công trình không được xây hoàn toàn bằng bê tông đặc như Thủy điện Sơn La sau này, mà sử dụng đất sét trong kết cấu đập. Lý do là nền đáy sông không ổn định. Theo kịch bản được đặt ra, nếu đập làm hoàn toàn bằng bê tông và một mảng bị vỡ, sự cố có thể lan nhanh. Trong kịch bản tồi tệ nhất, nếu vỡ đập, 6 tỉnh đồng bằng Bắc Bộ ven sông Hồng có thể bị cuốn trôi ra biển trong một ngày, còn Hà Nội có thể ngập sâu 30 m tính từ điểm cao nhất của ga Hàng Cỏ.
Đất sét được chọn vì ít thấm nước và có độ dẻo. Nếu xảy ra rò rỉ, kết cấu này tạo thêm thời gian để xử lý. Khi thi công, những cột bê tông cao hàng chục mét được đóng sâu xuống lòng hồ; đất sét được nhồi ở giữa, các khối bê tông nặng 10 tấn xếp xung quanh, phía trên là đá và xi măng. Vì vậy, thân đập Hòa Bình có dạng thoải thay vì thẳng đứng.
Gần 200 người đã không trở về từ công trường. Sau khi công trình hoàn thành, các kỹ sư Việt Nam và Liên Xô viết một bức thư gửi thế hệ mai sau. Lá thư đánh máy được đặt trong một ống đồng lớn hơn bắp tay, xoắn chặt hai đầu rồi chôn sâu vào hốc của một khối bê tông. Ban đầu, hốc được che bằng tấm biển cố định bằng bốn bu lông; sau khi bị lấy cắp, phần này được hàn kín. Theo lời dặn, bức thư chỉ được mở vào năm 2100, thời điểm nhà máy dự kiến hết hạn sử dụng.
Những đêm quyết định để bảo vệ hạ du
Thủy điện Hòa Bình không chỉ phát điện. Theo ông Bùi Thức Khiết, Giám đốc đầu tiên của nhà máy, công trình có bốn chức năng chính: chống lũ, phát điện, tưới tiêu và bảo đảm giao thông thủy. Trong đó, chống lũ là nhiệm vụ hàng đầu.
Từ khi vận hành năm 1988 đến nay, Thủy điện Hòa Bình đã cắt 44 trận lũ lớn. Đáng chú ý là trận lũ lịch sử năm 1996, khi lưu lượng nước về hồ lên tới 22.650 m³/s. Nhà máy đã cắt hơn 9.000 m³/s, chỉ xả xuống hạ lưu 13.000 m³/s. Nếu không có đập Hòa Bình, mực nước sông Hồng tại Hà Nội có thể chạm 13,46 m, vượt mức uy hiếp 13,4 m, làm tăng nguy cơ ngập úng lớn và vỡ đê trên diện rộng.
Việc điều hành hồ chứa luôn đặt người chỉ huy trước những lựa chọn khó khăn. Ông Nguyễn Văn Thành, cựu Giám đốc Công ty Thủy điện Hòa Bình, nhớ lại cuối mùa lũ năm 2007, khi một cơn bão lớn đổ bộ miền Bắc. Nước hồ dâng nhanh, đe dọa an toàn đập. Sáu cửa xả đáy đã được mở, và câu hỏi đặt ra là có nên mở tiếp cửa xả số 7 hay không.
Khi đó, có ý kiến cho rằng cần tiếp tục xả để bảo vệ nhà máy, tránh nguy cơ vỡ đập. Ý kiến khác đề nghị phải tính kỹ vì xả lũ có thể khiến thành phố Hòa Bình ngập sâu. Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) yêu cầu bảo đảm an toàn cho cả nhà máy và hạ du. Sau khi tổng hợp các phương án, ông Thành quyết định không mở cửa xả số 7. Ông và khoảng 700 cán bộ, nhân viên đã thức trắng 2 ngày đêm. Khi mưa giảm và nước rút, nhà máy cùng người dân hạ du đều an toàn.
Người làm thủy điện luôn đứng trước thế khó. Xả lượng nước lớn có thể ảnh hưởng đến sản xuất, chăn nuôi ở hạ du và gây thiệt hại kinh tế. Nhưng nếu giữ nước đến mức mất an toàn đập, hậu quả có thể nghiêm trọng hơn nhiều. Trong đợt mưa lũ năm 2017, nhà máy từng phải mở đến 8 cửa xả đáy. Mỗi quyết định vận hành vì thế đều là sự cân nhắc giữa an toàn công trình và tác động đến cuộc sống phía hạ du.
Thủy điện Hòa Bình mở rộng và vai trò mới
Năm 2021, dự án Nhà máy Thủy điện Hòa Bình mở rộng được khởi công, nhằm tận dụng nguồn nước xả thừa vào mùa lũ để phát điện.
Theo thiết kế, dự án bổ sung 2 tổ máy với tổng công suất 480 MW. Ban đầu, dự án dự kiến hoàn thành vào cuối năm 2024. Sau những thay đổi trong quá trình thi công, công trình hoàn thành và khánh thành vào tháng 12/2025. Hai tổ máy mới đã đi vào vận hành, nâng tổng công suất toàn bộ Nhà máy Thủy điện Hòa Bình lên 2.400 MW, bằng công suất Thủy điện Sơn La.
Trong bối cảnh tỷ trọng điện gió và điện mặt trời tăng nhưng nguồn điện này chưa ổn định, 480 MW từ dự án mở rộng giúp hệ thống linh hoạt hơn trong giờ cao điểm, hỗ trợ điều tần và ổn định hệ thống điện quốc gia.
Mỗi năm, nhà máy đóng góp khoảng 10 tỷ kWh điện và cấp từ 2 đến 3,2 tỷ m³ nước chống hạn vụ Đông Xuân, tương đương 65–70% tổng lượng xả từ các hồ phía Bắc. Công trình cũng đóng góp từ 1.000 đến 1.400 tỷ đồng, chiếm khoảng 50% tổng thu ngân sách của tỉnh Hòa Bình cũ.
Ngày 20/1/2017, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 99/QĐ-TTg, công nhận đây là công trình quan trọng liên quan đến an ninh quốc gia. Thủy điện Hòa Bình là kết quả lao động của nhiều thế hệ cán bộ, công nhân, chuyên gia Việt Nam và Liên Xô; đồng thời là một dấu mốc trong quan hệ hữu nghị Việt - Xô.
Giữa ngày xả lũ tháng 7/2026, sông Đà vẫn chảy qua đập Hòa Bình, mang theo dòng điện và nguồn nước phục vụ đời sống, sản xuất ở hạ du. Đến năm 2100, khi bức thư trong khối bê tông được mở ra, câu chuyện về công trường và những con người đã làm nên công trình này sẽ được kể tiếp cho một thế hệ khác.